Top

Top 6 Bài soạn “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” của Đặng Thai Mai lớp 7 hay nhất

“Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa – Ống tre ngà và mềm mại như tơ”
Tiếng Việt từ muôn thuở vẫn là kho báu ý thức vô giá của dân tộc. Tiếng Việt lưu giữ hồn cốt, những trị giá văn hóa, lịch sử của tổ quốc qua nghìn đời lửa cháy. Chúng ta vẫn tìm về tiếng Việt như một cách để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc với những gì thân thiện, thân yêu, trìu mến nhất. Thứ tiếng nói đó đã ngấm vào trong từng đường gân thớ thịt của chúng ta, gắn bó với ta từ thuở còn trong nôi qua những lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ. Vì lẽ đó, ta yêu quý, tự hào xiết bao thứ tiếng đã cùng ta lớn lên thành người. Tác giả Đặng Thai Mai cũng có một bài viết để ngợi ca sự giàu đẹp của tiếng Việt. Mời các bạn tham khảo một số bài soạn “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” lớp 7 hay nhất nhưng Thư Viện Hỏi Đáp đã tổng hợp trong bài viết dưới đây.

Bài soạn “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” số 1

I. Đôi nét về tác giả Đặng Thai Mai

– Đặng Thai Mai (1902-1984) quê ở làng Lương Điền, xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
– Ông là nhà văn, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng, nhà hoạt động xã hội có uy tín.
– Trước Cách mệnh tháng Tám năm 1945, ông vừa dạy học, hoạt động cách mệnh, vừa sáng tác và nghiên cứu văn học
– Từ sau Cách mệnh tháng Tám năm 1945, ông giữ nhiều trọng tách trong bộ máy chính quyền và các cơ quan văn nghệ, đồng thời viết một số công trình nghiên cứu văn học có trị giá lớn
– Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Gicửa ải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

II. Đôi nét về tác phẩm Sự giàu đẹp của Tiếng Việt

1. Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ
“Sự giàu đẹp của tiếng Việt” (tên bài do người soạn sách đặt) là đoạn trích ở phần đầu của bài nghiên cứu “Tiếng Việt, một biểu lộ hùng hồn của sức sống dân tộc”, in lần đầu vào năm 1967, được bổ sung và đưa vào “Tuyển tập Đặng Thai Mai, tập II”
2. Bố cục (2 phần)
– Phần 1 (từ đầu tới “qua các thời kì lịch sử”): Nhận định chung về sự giàu đẹp của tiếng Việt
– Phần 2 (còn lại): Chứng minh sự giàu đẹp của tiếng Việt
3. Giá trị nội dung
Bài văn đã chứng minh sự giàu có và xinh tươi của tiếng Việt trên nhiều phương diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Tiếng Việt, với những phẩm chất vững bền và giàu khả năng thông minh trong quá trình tăng trưởng trong khoảng thời gian dài của nó, là một biểu lộ hùng hồn của sức sống dân tộc
4. Giá trị nghệ thuật
– Liên kết khôn khéo giữa lập luận giảng giải và lập luận chứng minh, bình luận
– Lập luận chặt chẽ
– Dẫn chứng phong phú, bao quát toàn diện
– Câu văn mạch lạc, trong sáng, sử dụng nhiều giải pháp mở rộng câu

III. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)

Phần 1 (đoạn 1, 2): Tiếng Việt đẹp và hay (luận điểm chính, tổng quát)

Phần 2 (còn lại): Chứng minh sự giàu đẹp, phong phú của tiếng Việt.

Câu 2 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)

Nhận định Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp và hay được trình diễn:

+ Câu mở đầu khẳng định trị giá, vị thế của tiếng Việt

+ Vế thứ hai, giảng giải ngắn gọn nhận định đó.

Câu 3 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)

Để chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt, tác giả trình diễn những ý kiến theo 2 phương thức: trực tiếp, gián tiếp.

+ Tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp, cái đẹp ở mặt ngữ âm

+ Ý kiến của một người nước ngoài: ấn tượng của họ lúc nghe người Việt nói, nhận xét của những người am tường tiếng Việt như các giáo sĩ nước ngoài

+ Hệ thống nguyên âm và phụ âm giàu thanh điệu, phong phú

Câu 4 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)

Sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt được trình bày qua: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp

– Ngữ âm: Hệ thống nguyên âm, phụ âm phong phú, giàu thanh điệu

– Từ vựng: dồi dào trị giá thơ, nhạc, họa, gợi hình, giàu nhạc điệu

– Ngữ pháp: tiếng Việt rất uyển chuyển, nhịp nhàng

+ Ví dụ: sự hài hòa về thanh điệu, sự phong phú về ngôn từ trong Truyện Kiều hoặc trong Chinh phụ ngâm, thơ của Tố Hữu…

⇒ Tác giả làm nổi trội sự giàu có của tiếng Việt, chính là sự thông minh từ ngữ mới thích hợp với sự tăng trưởng của xã hội

Câu 5 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)

Điểm nổi trội trong nghệ thuật nghị luận ở bài văn này:

– Tác giả liên kết hài hòa giữa giảng giải, chứng minh với bình luận

– Lập luận chặt chẽ: nhận định ngay phần mở bài, tiếp đó chứng minh

– Tác giả đã phải sử dụng một hệ thống chặt chẽ: nêu nhận định nói chung, giảng giải bằng nhiều phương thức linh hoạt

– Sử dụng giải pháp mở rộng câu nhằm làm rõ nghĩa giống như vừa ghi chú, vừa bổ sung thêm nhiều khía cạnh mới hoặc mở rộng điều đang nói.

Luyện tập

Câu 1 (trang 37 SGK): Sưu tầm, ghi lại những ý kiến nói về sự giàu đẹp, phong phú của tiếng Việt và nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

+ Phạm Văn Đồng: “Tiếng Việt của chúng ta rất giàu. Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp. Giàu bởi kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân ta lâu đời và phong phú. Đẹp bởi tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp. Hai nguồn của cái giàu, cái đẹp đó là ở chỗ tiếng Việt là tiếng nói của nhân dân, đầy tình cảm, màu sắc và âm điệu, hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đầy ý nghĩa; đồng thời nó là tiếng nói của văn học nhưng những thi sĩ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… và những nhà văn, thi sĩ ngày nay ở miền Bắc và miền Nam đã nâng lên tới trình độ rất cao về nghệ thuật.”

Câu 2 (trang 37 SGK):Năm dẫn chứng trình bày sự giàu đẹp của tiếng Việt về ngữ âm và từ vựng trong các bài văn, thơ đã học hoặc đọc thêm ở các lớp 6, 7.

– Thân gầy guộc, lá mỏng manh

Nhưng sao nên luỹ nên thành tre ơi?

Ở đâu tre cũng xanh tươi

Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu

(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

– Chú nhỏ loắt choắt,

Cái xắc xinh xinh,

Cái chân thoăn thoắt,

Cái đầu nghênh nghênh.

(Lượm – Tố Hữu)

– Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

(Tục ngữ)

– Ông trời

Mặc áo giáp đen

Ra trận

Muôn nghìn cây mía

Múa gươm

Kiến

Hành quân

Đầy đường

(Mưa – Trần Đăng Khoa)

– Càng đổ dần về hướng mũi Cà Mau thì sông ngòi, kênh rạch càng bủa giăng dày đặc như mạng nhện.

Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng.

Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn nghìn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao vút như hai dãy trường thành vô tận.

(Sông nước Cà Mau)

Ý nghĩa – Nhận xét

– Qua những lí lẽ, chứng cứ chặt chẽ và toàn diện của tác giả, học trò nhận thấy được sự giàu có và xinh tươi của tiếng Việt trên nhiều phương diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Đồng thời, học trò còn trông thấy được những phẩm chất bền vừng và giàu khả năng thông minh trong quá trình tăng trưởng trong khoảng thời gian dài của tiếng nói dân tộc, nó là một biểu lộ hùng hồn cho sức sống của dân tộc.

– Học trò từ bài học, thêm yêu quý tiếng nói mẹ đẻ và có ý thức giữ gìn vẻ đẹp, sự trong sáng của tiếng Việt.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” số 2

I. Một vài nét về tác giả

– Đặng Thai Mai (1902-1984) quê ở làng Lương Điền, xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

– Ông là nhà văn, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng, nhà hoạt động xã hội có uy tín.

– Trước Cách mệnh tháng Tám năm 1945, ông vừa dạy học, hoạt động cách mệnh, vừa sáng tác và nghiên cứu văn học.

– Từ sau Cách mệnh tháng Tám năm 1945, ông giữ nhiều trọng trách trong bộ máy chính quyền và các cơ quan văn nghệ, đồng thời viết một số công trình nghiên cứu văn học có trị giá lớn.

– Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Gicửa ải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

II. Kiến thức cơ về tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

“Sự giàu đẹp của tiếng Việt” (tên bài do người soạn sách đặt) là đoạn trích ở phần đầu của bài nghiên cứu “Tiếng Việt, một biểu lộ hùng hồn của sức sống dân tộc”, in lần đầu vào năm 1967, được bổ sung và đưa vào “Tuyển tập Đặng Thai Mai, tập II”.

2. Bố cục

– Phần 1 (từ đầu tới “qua các thời kỳ lịch sử”): Nhận định chung về sự giàu đẹp của tiếng Việt

– Phần 2 (còn lại): Chứng minh sự giàu đẹp của tiếng Việt

3. Tìm hiểu văn bản

a. Vẻ đẹp của tiếng Việt:

Đọc đoạn: “Từ đầu … qua các thời kỳ lịch sử”.

Câu mở đầu nêu lên điều gì?

– Khẳng định trị giá và địa vị của Tiếng Việt.

Các câu còn lại có nhiệm vụ gì?

– Câu 3 nêu luận điểm, câu 4, 5 giảng giải, mở rộng luận điểm.

Cái đẹp và cái hay được giảng giải là gì?

Cái đẹp:

– Hài hoà về âm hưởng, thanh điệu;

– Tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu.

Cái hay:

– Có đầy đủ khả năng để diễn tả tình cảm, tư tưởng của con người;

– Thoả mãn các yêu cầu tăng trưởng của xã hội.

* Tiếng Việt hài hòa về mặt âm hưởng (là sự hòa hợp về mặt âm thanh, thanh điệu; rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu; có đầy đủ khả năng để diễn tả tư tưởng, tình cảm và trình bày cái nhìn, tầm văn hoa uyên bác ở người viết).

* Tóm lại rực rỡ của đoạn văn nêu vấn đề là ở chỗ: nó rất mạch lạc và mẫu mực về bố cục tới từng câu văn, từng hình ảnh.

– Tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp trước hết đẹp về mặt ngữ âm.

– Tiếng Việt là một thứ tiếng giàu chất nhạc, rất lành mạnh trong lối nói, uyển chuyển trong cách đặt câu, ngon lành trong tục ngữ.

b. Chứng minh sự giàu đẹp của tiếng Việt:

Đọc đoạn “Tiếng Việt trong cấu … câu tục ngữ”.

Câu trước nhất của đoạn có tác dụng gì?

– Nêu đặc điểm cần chứng minh của đoạn là T.Việt khá đẹp.

Tác giả chứng minh tiếng Việt đẹp với mấy dẫn chứng?

– Với 2 dẫn chứng: Thực tế, khách quan tiêu biểu.

– Nhận xét của người ngoại quốc sang thăm nước ta: “Tiếng Việt là một thứ tiếng giàu chất nhạc”.

– Trích một lời dẫn của một giáo sĩ nước ngoài: “Tiếng Việt là một thứ tiếng “đẹp” và “rất rành mạch trong lối nói, rất uyển chuyển trong dụ dỗ, rất ngon lành trong những câu tục ngữ”.

* Đọc đoạn “Tiếng Việt chúng ta … văn nghệ”

Tiếp theo tác giả chứng minh và giảng giải sự giàu đẹp và có khả năng phong phú của TV được trình bày ở những phương diện nào?

– Hệ thống nguyên âm và phụ âm phong phú, giàu thanh điệu (6 thanh).

– Từ vựng dồi dào, giàu chất thơ, nhạc, họa.

– Ngữ pháp cũng dần uyển chuyển, chuẩn xác, hài hòa, hợp lý.

– Tiếng Việt có khả năng thỏa mãn mọi nhu cầu của đời sống văn hóa ngày một tăng trưởng về mọi mặt: kinh tế, chính trị, khoa học …

Hãy tìm một số dẫn chứng để làm rõ các nhận định của tác giả?

– Từ mới xuất hiện: Mat tinh, in-tơ-net.

– Tiếng nước ngoài được việt hóa: xà phòng, oto, tivi.

* Tóm lại: Cái đẹp, cái hay của Tiếng Việt trình bày qua:

– Nguyên âm, phụ âm phong phú.

– Thanh điệu giàu có.

– Từ vựng dồi dào, ngày một nhiều, giàu chất thơ, nhạc, họa.

– Ngữ pháp dần uyển chuyển, chuẩn xác, hài hòa, hợp lý.

4. Giá trị nghệ thuật

– Liên kết khôn khéo giữa lập luận giảng giải và lập luận chứng minh, bình luận.

– Lập luận chặt chẽ.

– Dẫn chứng phong phú, bao quát toàn diện.

– Câu văn mạch lạc, trong sáng, sử dụng nhiều giải pháp mở rộng câu.


III. Trả lời câu hỏi trong sgk

Câu 1 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)

Phần 1 (đoạn 1, 2): Tiếng Việt đẹp và hay (luận điểm chính, tổng quát)

Phần 2 (còn lại): Chứng minh sự giàu đẹp, phong phú của tiếng Việt.

Câu 2 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)

Nhận định Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp và hay được trình diễn:

+ Câu mở đầu khẳng định trị giá, vị thế của tiếng Việt.

+ Vế thứ hai, giảng giải ngắn gọn nhận định đó.

Câu 3 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)

Để chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt, tác giả trình diễn những ý kiến theo 2 phương thức: trực tiếp, gián tiếp.

+ Tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp, cái đẹp ở mặt ngữ âm.

+ Ý kiến của một người.

Câu 4 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)

Sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt được trình bày qua: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp

– Ngữ âm: Hệ thống nguyên âm, phụ âm phong phú, giàu thanh điệu.

– Từ vựng: dồi dào trị giá thơ, nhạc, họa, gợi hình, giàu nhạc điệu.

– Ngữ pháp: tiếng Việt rất uyển chuyển, nhịp nhàng.

+ Ví dụ: sự hài hòa về thanh điệu, sự phong phú về ngôn từ trong Truyện Kiều hoặc trong Chinh phụ ngâm, thơ của Tố Hữu….

⇒ Tác giả làm nổi trội sự giàu có của tiếng Việt, chính là sự thông minh từ ngữ mới thích hợp với sự tăng trưởng của xã hội.

Câu 5 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)

Điểm nổi trội trong nghệ thuật nghị luận ở bài văn này:

– Tác giả liên kết hài hòa giữa giảng giải, chứng minh với bình luận.

– Lập luận chặt chẽ: nhận định ngay phần mở bài, tiếp đó chứng minh.

– Tác giả đã phải sử dụng một hệ thống chặt chẽ: nêu nhận định nói chung, giảng giải bằng nhiều phương thức linh hoạt.

– Sử dụng giải pháp mở rộng câu nhằm làm rõ nghĩa giống như vừa ghi chú, vừa bổ sung thêm nhiều khía cạnh mới hoặc mở rộng điều đang nói.nước ngoài: ấn tượng của họ lúc nghe người Việt nói, nhận xét của những người am tường tiếng Việt như các giáo sĩ nước ngoài.

+ Hệ thống nguyên âm và phụ âm giàu thanh điệu, phong phú.

II. Luyện tập

Câu 1 (trang 37 sgk Ngữ văn tập 2)

Phạm Văn Đồng: “Tiếng Việt của chúng ta rất giàu. Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp. Giàu bởi kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân ta lâu đời và phong phú. Đẹp bởi tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp. Hai nguồn của cái giàu, cái đẹp đó là ở chỗ tiếng Việt là tiếng nói của nhân dân, đầy tình cảm, màu sắc và âm điệu, hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đầy ý nghĩa; đồng thời nó là tiếng nói của văn học nhưng những thi sĩ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… và những nhà văn, thi sĩ ngày nay ở miền Bắc và miền Nam đã nâng lên tới trình độ rất cao về nghệ thuật.”

Câu 2 (trang 37 sgk Ngữ văn tập 2)

Dẫn chứng thể hiện sự giàu đẹp của tiếng Việt về ngữ âm và từ vựng :

– “Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bón lồng hoa.”

(Cảnh khuya – Hồ Chí Minh)

– “Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây xen lá đá chen hoa

Lom khom dưới núi tiêu vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà.”

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” số 3

TÌM HIỂU CHUNG VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

1. Tác giả

– Đặng Thai Mai (1902 – 1984) quê ở làng Lương Điền, xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

– Là nhà văn, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng, nhà hoạt động xã hội có uy tín.

– Trước Cách mệnh tháng Tám 1945, ông vừa dạy học, hoạt động cách mệnh vừa sáng tác và nghiên cứu văn học.

– Từ sau năm 1945, ông giữ nhiều trọng trách trong bộ máy chính quyền và các cơ quan văn nghệ, đồng thời viết một số công trình nghiên cứu văn học có trị giá lớn.

– Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Gicửa ải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

2. Tác phẩm

– Bài Sự giàu đẹp của tiếng Việt là đoạn trích ở phần đầu của bài nghiên cứu Tiếng Việt, một biểu lộ hùng hồn của sức sống dân tộc, in lần đầu vào năm 1967, được bổ sung và đưa vào Tuyển tập Đặng Thai Mai, tập II.

– Bố cục: 2 phần

+ Phần 1. Từ đầu tới… “các thời kì lịch sử”: Nêu nhận định tiếng Việt là một thức tiếng đẹp, một thứ tiếng hay, giảng giải nhận định đó.

+ Phần 2. Còn lại: Chứng minh cái đẹp và cái hay của tiếng Việt.


ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

Câu 1 – Trang 37 SGK

Tìm bố cục của bài văn và nêu ý chính của mỗi đoạn.

Trả lời:

– Bài văn có bố cục gồm hai đoạn:

+ Đoạn 1 (Từ đầu tới … “thời kì lịch sử”): Nêu nhận định tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay, giảng giải nhận định đó.

+ Đoạn 2 (phần còn lại): Chứng minh cái đẹp và sự giàu có, phong phú (cái hay) của tiếng Việt về các mặt: ngữ âm, từ vựng, cú pháp. Sự giàu đẹp đó cũng là một chứng cứ về sức sống của Tiếng Việt.


Câu 2 – Trang 37 SGK

Hãy cho biết nhận định: “Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay” đã được giảng giải cụ thể trong đoạn đầu bài văn như thế nào?

Trả lời:

Nhận định “Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay” được giảng giải cụ thể trong đoạn đầu bài văn như sau:

+ Câu mở đầu khẳng định trị giá, vị thế của tiếng Việt, từ đó đưa ra luận điểm cơ bản bao trùm: “Tiếng Việt có những rực rỡ… hay”

+ Tiếp đó tới vế thứ hai, tác giả giảng giải ngắn gọn nhưng rõ ràng về đặc tính đẹp và hay của tiếng Việt.


Câu 3 – Trang 37 SGK

Để chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt, tác giả đã đưa ra những chứng cứ gì và sắp xếp các chứng cứ đó như thế nào?

Trả lời:

Để chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt, tác giả đã đưa ra những chứng cứ sau:

– Tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp, cái đẹp trước hết ở mặt ngữ âm.

– Ý kiến của người nước ngoài: Ấn tượng của họ lúc nghe người Việt nói nhận xét của những người am tường tiếng Việt như các giáo sĩ nước ngoài.

– Hệ thống nguyên âm và phụ âm phong phú, giàu thanh điệu (6 thanh)

– Uyển chuyển, hợp lý, nhịp nhàng về mặt cú pháp.

– Từ vựng dồi dào trị giá thơ, nhạc, họa.

– Tiếng Việt là một thứ tiếng hay.

– Có khả năng dồi dào về cấu tạo từ ngữ, hình thức diễn tả và ngữ pháp. Cấu tạo và khả năng thích ứng với sự tăng trưởng là một biểu lộ về sức sống dồi dào của tiếng Việt.


Câu 4 – Trang 37 SGK

Sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt đã được trình bày ở những phương diện nào? Em hãy tìm một số dẫn chứng cụ thể để làm rõ các nhận định của tác giả.

Trả lời:

Sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt được trình bày qua: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp.

– Về ngữ âm: Hệ thống nguyên âm, phụ âm phong phú, giàu thanh điệu

– Về từ vựng: dồi dào trị giá thơ, nhạc, họa, gợi hình, giàu nhạc điệu

– Về ngữ pháp: tiếng Việt rất uyển chuyển, nhịp nhàng

Ví dụ: sự hài hòa về thanh điệu, sự phong phú về ngôn từ trong Truyện Kiều hoặc trong Chinh phụ ngâm, thơ của Tố Hữu…

⇒ Tác giả làm nổi trội sự giàu có của tiếng Việt, chính là sự thông minh từ ngữ mới thích hợp với sự tăng trưởng của xã hội


Câu 5* – Trang 37 SGK

Điểm nổi trội trong nghệ thuật nghị luận của bài là gì?

Trả lời:

Phép lập luận chứng minh của tác giả trong bài này rất chặt chẽ và có sức thuyết phục, bởi vì:

– Lập luận chặt chẽ: đưa nhận định ngay ở phần mở bài, tiếp đó giảng giải và mở rộng nhận định đó, sau đó dùng các chứng cứ để chứng minh.

– Các dẫn chứng được dẫn khá toàn diện, bao quát, ko sa vào những dẫn chứng quá cụ thể, tỉ mỉ. Nhưng chính vì thế người đọc phải có những hiểu biết cụ thể để minh họa cho chứng cứ.

– Sử dụng giải pháp mở rộng câu nhằm làm rõ nghĩa giống như vừa ghi chú, vừa bổ sung thêm nhiều khía cạnh mới hoặc mở rộng điều đang nói.


LUYỆN TẬP

Câu 1 – Trang 37 SGK

Sưu tầm, ghi lại những ý kiến nói về sự giàu đẹp, phong phú của tiếng Việt và nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Trả lời:

Tham khảo 2 ý kiến sau đây của đồng chí Phạm Văn Đồng và thi sĩ Xuân Diệu:

– “Tiếng Việt của chúng ta rất giàu, tiếng ta giàu bởi đời sống của chúng ta muôn màu, đời sống tư tưởng và tình cảm dồi dào của dân tộc ta… Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp; đẹp như thế nào, đó là điều khó nói…”

(Phạm Văn Đồng – Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt)

– “Hai nguồn giàu đẹp của tiếng Việt là tiếng nói của quần chúng nhân dân và tiếng nói văn học nhưng các thi sĩ lớn đã nâng lên tới mức cao. Tiếng nói hằng ngày của quần chúng nhân dân lao động, trong đấu tranh, trong quan hệ xã hội, cụ thể, sinh động, có hình ảnh, màu sắc và nhạc điệu: Tiếng nói đó kết đọng lại rất hay, rất đẹp trong tục ngữ và ca dao…”

(Xuân Diệu – Tâm tình với các em về tiếng Việt)


Câu 2 – Trang 37 SGK

Tìm 5 dẫn chứng trình bày sự giàu đẹp của tiếng Việt về ngữ âm, từ vựng trong các bài văn, thơ đã học hoặc đọc thêm ở các lớp 6, 7.

Trả lời:

Sự giàu đẹp của tiếng Việt về ngữ âm và từ vựng trình bày cụ thể ở các dẫn chứng:

– Những câu thơ đầy chất nhạc trong bài thơ Lượm của Tố Hữu:

Chú nhỏ loắt choắt

Cái xắc xinh xinh

Cái chân thoăn thoắt

Cái đầu nghênh nghênh

Ca nô đội lệch

Mồm huýt sáo vang

Như con chim chích

Nhảy trên đường vàng

– Những câu văn đầy chất thơ trích trong văn bản Mùa xuân của tôi của tác giả Vũ Bằng:

“Thường thường vào khoảng đó trời đã hết nồm, mưa xuân mở màn thay thế cho mưa phùn, ko còn làm cho nền trời đùng đục như màu pha lê mờ. Sáng dậy, nằm dài nhìn ra cửa sổ thấy những vệt xanh tươi hiện ở trên trời, mình cảm thấy một thú vui sáng sủa. Trên giàn hoa lí vài con ong siêng năng bay đi kiếm nhị hoa. Chỉ độ tám, chín giờ sáng, trên nền trời trong trong có những làn sáng hồng hồng rung động như cánh con ve mới lột”.

– Những câu thơ đầy chất họa trong bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

– Những câu thơ gợi hình ảnh kiên cường, hào hùng của cây tre Việt Nam trong thơ Nguyễn Duy:

Thân gầy guộc, lá mỏng manh

Nhưng sao nên luỹ nên thành tre ơi?

Ở đâu tre cũng xanh tươi

Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu.

TỔNG KẾT

Bằng những lí lẽ, chứng cứ chặt chẽ và toàn diện, bài văn đã chứng minh sự giàu có và xinh tươi của tiếng Việt trên nhiều phương diện: Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Tiếng Việt, với những phẩm chất vững bền và giàu khả năng thông minh trong quá trình tăng trưởng trong khoảng thời gian dài của nó, làm một biểu lộ hùng hồn sức sống của dân tộc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” số 4

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả

Đặng Thai Mai quê ở Nghệ An
Ông là nhà văn, nhà nghiên cứu nổi tiếng
Ông từng giữ nhiều trọng trách trong bộ máy chính quyền và các cơ quan văn nghệ

2. Tác phẩm

Văn bản Sự giàu đẹp của tiếng Việt là đoạn trích ở phần đầu của bài nghiên cứu Tiếng Việt, một biểu lộ hùng hồn của sức sống dân tộc , được in lần đầu vào năm 1967, được bổ sung và đưa vào Tuyển tập Đặng Thai Mai, tập II.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Văn bản có thể được chia làm 2 đoạn:

Đoạn 1: từ đầu => “qua các thời kì lịch sử” : Nêu lên nhận định tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay và tác giả giảng giải nhận định đó.
Đoạn 2: còn lại : chứng minh cái đẹp và sự giàu có, phong phú của tiếng Việt qua những mặt: ngữ âm, từ vựng, cú pháp. Sự giàu đẹp đó cũng là một chứng cứ về sức sống của tiếng Việt.


Câu 2:

Nhận định “Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay” đã được giảng giải cụ thể trong đoạn đầu bài văn này như sau:

Câu mở đầu khẳng định trị giá và địa vị của tiếng Việt, từ đó đưa ra luận điểm cơ bản bao trùm: Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay. Tiếp sau đó, tác giả giảng giải ngắn gọn, rõ ràng về đặc tính đẹp và hay của tiếng Việt.

Câu 3:

Để chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt, tác giả đã đưa ra những chứng cứ thuyết phục cùng với cách lập luận chặt chẽ theo trình tự như sau:

Tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp, cái đẹp trước hết ở mặt ngữ âm
Nêu ra ý kiến của người nước ngoài – một giáo sĩ thạo tiếng Việt để khẳng định lí lẽ
Tiếng Việt có hệ thống nguyên âm, phụ âm phong phú, giàu thanh điệu


Câu 4:

Sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt được trình bày ở những phương diện:

Tiếng Việt có hệ thống nguyên âm phong phú, giàu thanh điệu
Tiếng Việt uyển chuyển, hợp lý, nhịp nhàng về mặt cú pháp
Từ vựng dồi dào trị giá thơ, nhạc, họa
Có khả năng dồi dào về cấu tạo từ ngữ, hình thức diễn tả và ngữ pháp. Cấu tạo và khả năng thích ứng với sự tăng trưởng là một biểu lộ về sức sống dồi dào của tiếng Việt.


Câu 5:

Điểm nổi trội trong nghệ thuật nghị luận ở bài văn này là:

Liên kết giảng giải với chứng minh và bình luận.
Lập luận chặt chẽ: nêu nhận định ngay ở phần mở bài, sau đó là giảng giải và mở rộng nhận định đó, cuối cùng dùng các chứng cứ để chứng minh
Những dẫn chứng khá toàn diện, bao quát, ko sa vào trường hợp quá cụ thể, tỉ mỉ.
Về cấu trúc câu, tác giả thường sử dụng giải pháp mở rộng câu, vừa để làm rõ nghĩa, vừa để bổ sung các khía cạnh mới hoặc mở rộng thêm ý.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” số 5

I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

Câu 1. Bố cục: Gồm ba phần:

– Phần mở bài (Nêu vấn đề): Từ đầu cho tới “… đời sống văn hóa nước nhà qua các thời kì lịch sử”.

Ý chính: Người Việt Nam có thể tự hào và tin tưởng vào tiếng Việt, một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay.

– Phần thân bài (Chứng minh vấn đề): Từ chỗ “Tiếng Việt, trong cấu tạo của nó…” cho tới “…mọi mặt kinh tế, chính trị, khoa học, kĩ thuật, văn nghệ…”

Ý chính: Tiếng Việt đẹp và hay về các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và ngày càng tăng trưởng để thỏa mãn mọi yêu cầu của xã hội.

– Phần kết luận (Kết thúc vấn đề): Câu cuối của bài.

Ý chính: Khẳng định sức sống của tiếng Việt.


Câu 2. Nhận định “Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay” đã được giảng giải cụ thể trong đoạn đầu bài văn này như sau:

– Tiếng Việt hài hòa về mặt âm hưởng, thanh điệu.

– Tiếng Việt rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu.

– Tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn tả tình cảm, tư tưởng của người Việt Nam.


Câu 3. Tác giả đã chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt với nhiều chứng cứ được sắp xếp như sau:

+ Nêu một số ý kiến của người nước ngoài:

– Người nước ngoài tuy chưa hiểu tiếng ta, nhưng nghe người Việt Nam nói họ đã thấy tiếng Việt rất giàu nhạc tính.

– Một giáo sư nước ngoài nhận định rằng tiếng Việt đẹp và rất rành mạch trong lời nói, rất uyển chuyển trong dụ dỗ, rất ngon lành trong những câu tục ngữ.

+ Phân tích đặc điểm của tiếng Việt để chứng minh:

– Tiếng Việt gồm hệ thống nguyên âm và phụ âm khá phong phú.

– Tiếng Việt giàu về thanh điệu, giàu hình tượng ngữ âm như âm giai trong âm nhạc.


Câu 4. Sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt được trình bày ở những phương diện sau:

– Từ vựng tiếng Việt luôn được bổ sung ngày càng nhiều thêm để biểu lộ các khái niệm mới.

– Ngữ pháp cũng ngày càng tăng trưởng uyển chuyển hơn, chuẩn xác hơn.

– Tiếng Việt có khả năng thỏa mãn mọi yêu cầu của đời sống văn hóa ngày càng phức tạp hơn về mọi mặt kinh tế, chính trị, khoa học, kĩ thuật, văn nghệ…

Sau đây là một số dẫn chứng để làm rõ thêm các nhận định của tác giả:

Ví dụ về mặt từ vựng, tiếng Việt đã Việt hóa nhiều từ Hán để sử dụng trong việc viết các văn bản hoặc trong giao tiếp hàng ngày. Các từ độc lập, tự do, hạnh phúc, học tập, công việc, sắp đặt, phân công, lãnh đạo, cán bộ, quản lý, hiệu trưởng, học trò, thầy cô giáo, giám thị, giám khảo, lưu bút, kỉ niệm, kí ức, khoa học, mĩ nghệ, văn bản, nghị luận… đã trở thành quá thân thuộc và thông dụng đối với người Việt Nam. Nhiều thứ tiếng nước ngoài khác cũng đã trở thành tiếng Việt như: Xô viết, xà bông, oto, ti vi, mít tinh, cà vạt, (áo) sơ mi, (khăn) mùi soa, xa lông, com pa…


Câu 5. Điểm nổi trội trong nghệ thuật nghị luận ở bài văn này là: Với lối văn thật trong sáng, mạch lạc, tác giả đã đưa ra những lí lẽ chặt chẽ kèm theo các dẫn chứng xác đáng để chứng minh sự giàu đẹp của tiếng Việt về các mặt: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp tạo nên một sức thuyết phục cao.

Ghi nhớ:

Bằng những lí lẽ, chứng cứ chặt chẽ và toàn diện, bài văn đã chứng minh sự giàu có và xinh tươi của tiếng Việt trên nhiều phương diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Tiếng Việt, với những phẩm chất vững bền và giàu khả năng thông minh trong quá trình tăng trưởng trong khoảng thời gian dài của nó, là một biểu lộ hùng hồn sức sống của dân tộc.

II. LUYỆN TẬP

1. Việc sưu tầm các em tự làm.

2. Năm dẫn chứng trình bày Sự giàu đẹp về ngữ âm và từ vựng trong các bài văn thơ đã học, đã đọc:

“Sau trận bão, chân trời, ngấn bể sạch như tấm kính lau hết mây, hết bụi. Mặt trời như lên dần dần, rồi lên cho kì hết. Tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng tự nhiên đầy đặn. Quả trứng hồng hào, thăm thẳm và đường bệ đặt lên một mâm bạc, đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển ửng hồng. Y như một mâm lễ vật tiến ra từ trong rạng đông để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở biển Đông. Vài chiếc nhạn mùa thu chao đi chao lại trên mâm bể sáng dần lên cái chất bạc nén. Một con hải âu bay ngang, tà tà nhịp cánh”.

(Trích bài “Cô Tô” của Nguyễn Tuân)

“Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ

Mùi hoa thiên lí thoảng chiều thu

Con cò bay lả trong câu hát

Giấc trẻ say dài nhịp võng ru…

Lúa trổ đòng tơ, ngậm cốm non

Lá dài vươn sắc lưỡi gươm con

Tiếng chim méc lẻo cây hồng chín

Điểm nhạt da trời những chấm son…”

(Trích bài “Chiều thu” của Nguyễn Bính)

“Thuyền chúng tôi chèo thoát qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con sông Cửa Lớn, xuôi về Năm Căn. Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn nghìn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao vút như hai dãy trường thành vô tận…”.

(Trích bài “Sông nước Cà Mau” của Đoàn Giỏi)

“Mỗi lần có dịp đứng trên cầu Long Biên, tôi lại say mê ngắm nhìn màu xanh bãi mía, nương dâu, bãi ngô, vườn chuối phía Gia Lâm ko bao giờ chán mắt. Cái màu xanh cần lao đó gợi bao mến thương và yên tĩnh trong tâm hồn. Khi chiều xuống, nhìn về phía Hà Nội thấy những ánh đèn mọc lên như sao sa, gợi lên bao quyến rũ khát khao… Rồi những ngày nước lên cao, gần ngấp nghé thân cầu. Đứng trên cầu, nhìn dòng sông Hồng đỏ rực nước cuồn cuộn chảy với sức mạnh ko gì ngăn nổi, nhấn chìm bao màu xanh thân yêu, bao làng mạc trù phú đôi bờ, tôi cảm thấy chiếc cầu như chiếc võng đung đưa, nhưng vẫn dẻo dai, vững chắc”.

(Trích bài “Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử” của Thúy Lan)

“Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu

Nhưng lúc về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát

Người tới hát lúc chèo đò, kéo thuyền vượt thác

Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi

Người dạy ta nghèo ăn cháo ăn rau

Biết ăn ớt để xí gạt cái lưỡi

Cái cuốc con dao xí gạt cái tuổi

Chén rượu xí gạt cơn mỏi, cơn đau

Con nộm nang tre xí gạt cái chết

Xí gạt cái rét là ăn miếng trầu

Xí gạt thuồng luồng xăm mình, xăm mặt

Xí gạt thằng giặc là truyện Trạng Quỳnh

Nhưng lạ lùng thay nhân dân thông minh

Không hề lừa ta dù ca dao, cổ tích…”

(Trích bài tha “Tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm)

Kết quả cần đạt

Hiểu được sự giàu đẹp của tiếng Việt qua sự phân tích, chứng minh trong bài nghị luận giàu sức thuyết phục của Đặng Thai Mai. Nắm được những điểm nổi trội trong nghệ thuật nghị luận của bài văn.
Nắm được các đặc điểm về nội dung và hình thức của trạng ngữ, trông thấy các loại trạng ngữ trong câu.
Nắm được mục tiêu, tính chất và các yếu tố của phép lập luận chứng minh.

Chú thích (thêm)

Tự hào: lấy làm ưng ý và hãnh diện về cái tốt đẹp nhưng mình có.
Xã giao: giao thiệp phổ biến trong xã hội.
Nhân chứng: người làm chứng.
Phương diện: một mặt nào đó của vấn đề.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” số 6

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Tác giả

Đặng Thai Mai (1902 – 1984), quê ở làng Lương Điền, xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, Nghệ An
Là nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng, nhà hoạt động xã hội có uy
Trước cách mệnh 1945, ông vừa dạy học vừa tham gia hoạt động cách mệnh, sáng tác và nghiên cứu văn học.
Sau 1945, ông giữ nhiều trọng trách trong bộ máy chính quyền và cơ quan văn nghệ,viết một vài công trình nghiên cứu có trị giá lớn
Năm 1996, ông được nhà nước trao tặng Gicửa ải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật


2. Tác phẩm:

Tên bài do người soạn sách đặt, là đoạn trích phần đầu của bài nghiên cứu Tiếng việt, một biểu lộ hùng hồn của sức sống dân tộc, in lần đầu năm 1967, được bổ sung và tuyển chọn và đưa vào Tuyển tập Đặng Thai Mai, tập II

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: Trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2

Tìm bố cục của bài và nêu ý chính của mỗi đoạn

Bài làm:
Đây chỉ là một đoạn trích nên bố cục ko hoàn chỉnh. Có thể phân thành các phần như sau:
Phần mở đầu (đoạn 1, 2): Nêu luận điểm nói chung, lí do tự hào về tiếng Việt và tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay
Phần triển khai (còn lại): Vẻ đẹp và sức sống của tiếng Việt. Phần này gồm hai ý:
Từ “Tiếng Việt, trong cấu tạo của nó..” tới “..rất ngon lành trong những câu tục ngữ”: Tiếng Việt trong con mắt người nước ngoài;
Từ “Tiếng Việt chúng ta gồm có..” tới hết: Những yếu tố tạo nên vẻ đẹp và sức sống của tiếng Việt.

Câu 2: Trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2
Hãy cho biết nhận định “Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay” được giảng giải cụ thể trong đoạn đầu bài văn này như thế nào.
Bài làm:
Nhận định “Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay” được giảng giải khá rõ ràng bằng hai luận cứ qua một cấu trúc lặp có nhịp độ: “nói thế có tức là nói rằng…” gồm hai vế.
Ở vế thứ nhất (luận cứ 1), tác giả nêu những đặc trưng cơ bản của tiếng Việt “hài hoà về mặt âm hưởng, thanh điệu nhưng cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu..”
Ở vế thứ hai( luận cứ 2), tiếp nối vế trước, nêu khả năng của tiếng Việt trong việc “diễn tả tình cảm, tư tưởng và cho yêu cầu của đời sống văn hoá nước nhà qua các thời kì lịch sử”.

Câu 3: Trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2
Để chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt, tác giả đã đưa ra những chứng cớ gì và sắp xếp các chứng cứ đó như thế nào?
Bài làm:
Để chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt, tác giả đã trình diễn hai chứng cứ về ý kiến của người nước ngoài về tiếng Việt và ý kiến của bản thân trực tiếp phân tích, mô tả trên nhiều phương diện. Cụ thể như sau:
Phương thức gián tiếp là trình diễn các ý kiến về tiếng Việt của người nước ngoài. Tác giả đã đưa ra những chứng cứ rất toàn diện, từ người ko biết tiếng Việt cho tới người biết tiếng Việt. Người ko biết tiếng Việt thì chỉ cần căn cứ vào âm thanh cũng trông thấy rằng, “tiếng Việt là một thứ tiếng giàu chất nhạc”. Người biết tiếng Việt có thể đưa ra những nhận định cụ thể. Phương thức này tuy ko thể phân phối những nhận định nói chung và đầy đủ nhưng có ưu điểm là rất khách quan.

Để bổ sung cho chứng cứ trên, tác giả trực tiếp phân tích, mô tả các yếu tố tiếng nói của tiếng Việt trên các phương diện cơ bản, từ ngữ âm, ngữ pháp tới từ vựng. Về ngữ âm: tiếng Việt có hệ thống nguyên âm, phụ âm phong phú và rất giàu thanh điệu (sáu thanh). Về ngữ pháp: tiếng Việt rất uyển chuyển, nhịp nhàng. Về từ vựng: tiếng Việt gợi hình, giàu nhạc điệu. Tiếng Việt có khả năng dồi dào trong việc cấu tạo từ ngữ và hình thức diễn tả. Tiếng Việt có sự tăng trưởng qua các thời kì lịch sử về cả hai mặt từ vựng và ngữ pháp. Cấu tạo và khả năng thích ứng với sự tăng trưởng là một biểu lộ về sức sống mạnh mẽ của tiếng Việt.

Qua hệ thống luận cứ và những dẫn chứng toàn diện về mọi mặt tương tự, tác giả sắp xếp từ những chứng cớ gián tiếp tới trực tiếp, từ người ngoại quốc tới người trong cuộc, làm nổi trội cái đẹp và cái hay của tiếng Việt. Cái đẹp của tiếng Việt trình bày ở sự hài hoà về âm hưởng, thanh điệu, còn cái hay lại trình bày trong sự tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu, có đầy đủ khả năng diễn tả những tư tưởng, tình cảm của con người và các yêu cầu tăng trưởng của đời sống văn hoá ngày một phức tạp về mọi mặt kinh tế, chính trị, khoa học, kĩ thuật, văn nghệ,…
Ví dụ: Sự liên kết giữa âm thanh, nhịp độ và ý nghĩa đã tạo cho các câu thơ Việt một khả năng biểu đạt vô cùng phong phú và thâm thúy:
Con lại về quê mẹ nuôi xưa
Một buổi trưa nắng dài bãi cát
Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa
Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát.
(Tố Hữu, Mẹ Tơm)
Đoạn thơ trên rất giàu hình ảnh và nhạc điệu. Buổi trưa nắng dài bãi cát, có gió lộng xôn xao, có sóng biển đu đưa, và lòng người cũng xôn xao, đu đưa cùng với sóng, với gió. Bởi vậy nên sự chuyển đổi nghĩa trong câu thơ cuối (lòng ta mát rượi, ngân nga tiếng hát) trở thành hết sức tự nhiên, làm cho độc giả cũng cảm thấy rộn rực, bâng khuâng, dễ dàng đồng cảm, sẻ chia nỗi niềm tâm trạng với tác giả.

Câu 4: Trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2
Sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt được trình bày ở những phương diện nào?
Bài làm:
Tiếng Việt có hệ thống nguyên âm phụ âm phong phú, giàu thanh điệu (6 thanh).
Uyển chuyển, hợp lý, nhịp nhàng về mặt cú pháp.
Từ vựng dồi dào trị giá thơ, nhạc, hoạ.
Có khả năng dồi dào về cấu tạo từ ngữ và hình thức diễn tả.
Có sự tăng trưởng qua các thời kì lịch sử về cả hai mặt từ vựng và ngữ pháp. Có khả năng thích ứng với sự tăng trưởng liên tục của thời đại và cuộc sống.

Câu 5: Trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2
Điểm nổi trội trong nghệ thuật nghị luận ở bài văn này là gì ?
Bài làm:
Về nghệ thuật nghị luận, bài viết này có nhiều ưu điểm nổi trội:
Tác giả đã liên kết hài hoà giữa giảng giải, chứng minh với bình luận.
Tác giả đã sử dụng một hệ thống lập luận chặt chẽ: nêu nhận định nói chung, giảng giải bằng nhiều phương thức linh hoạt, tiếp đó dùng các dẫn chứng để chứng minh. Các dẫn chứng được dẫn ra khá bao quát, toàn diện.
Để cho bài viết thêm ngắn gọn, súc tích, tác giả đã nhiều lần sử dụng giải pháp mở rộng thành phần câu.
Ví dụ: “Họ ko hiểu tiếng ta, và đó là một ấn tượng, ấn tượng của người “nghe” và chỉ nghe thôi”.
Hoặc: “Một giáo sĩ nước ngoài (chúng ta biết rằng nhiều nhà tuyên giáo Thiên Chúa nước ngoài cũng là những người rất thạo tiếng Việt), đã có thể nói…”. Cách mở rộng câu tương tự giúp tác giả ko phải viết nhiều câu, đồng thời lại làm cho các ý gắn kết với nhau chặt chẽ và mạch lạc hơn.

Luyện tập
Bài tập 1: trang 37 sgk Ngữ Văn 7 tập hai

Sưu tầm, ghi lại những ý kiến nói về sự giàu đẹp, phong phú của tiếng Việt và nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Bài làm:
Những ý kiến nói về sự giàu đẹp, phong phú của tiếng Việt và nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là:
Phạm Văn Đồng: “Tiếng Việt của chúng ta rất giàu. Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp. Giàu bởi kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân ta lâu đời và phong phú. Đẹp bởi tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp. Hai nguồn của cái giàu, cái đẹp đó là ở chỗ tiếng Việt là tiếng nói của nhân dân, đầy tình cảm, màu sắc và âm điệu, hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đầy ý nghĩa; đồng thời nó là tiếng nói của văn học nhưng những thi sĩ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… và những nhà văn, thi sĩ ngày nay ở miền Bắc và miền Nam đã nâng lên tới trình độ rất cao về nghệ thuật.”
Bác Hồ: “Tiếng nói là một thứ của nả vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ quát ngày càng rộng khắp.”

Bài tập 2: trang 37 sgk Ngữ Văn 7 tập hai
Tìm năm dẫn chứng trình bày sự giàu đẹp của tiếng Việt về ngữ âm và từ vựng trong các bài văn, thơ đã học hoặ cđọc thêm ở các lớp 6,7
Bài làm:
Năm dẫn chứng trình bày sự giàu đẹp của tiếng Việt về ngữ âm và từ vựng trong các bài văn, thơ đã học hoặc đọc thêm ở các lớp 6,7:
Muôn nghìn cây mía

Múa gươm

Kiến

Hành quân

Đầy đường

Lá khô

Gió cuốn

Bụi bay

Cuồn cuộn

Cỏ gà rung tai

Nghe

Bụi tre

Tần ngần

Gỡ tóc

Hàng bưởi

Đu đưa

Bế lũ con

Đầu tròn

Trọc lốc
(Mưa – Trần Đăng Khoa)
Cháu đấu tranh hôm nay

Vì lòng yêu Tổ quốc

Vì xóm làng thân thuộc

Bà ơi, cũng vì bà

Vì tiếng gà cục tác

Ổ trứng hồng tuổi thơ
(Tiếng gà trưa – Xuân Quỳnh)
Lom khom dưới núi tiều vài chú,

Thưa thớt bên sông rợ mấy nhà.

Nhớ nước, đau lòng con cuốc cuốc,

Thương nhà, mỏi mồm cái da da.
(Qua đèo Ngang – Bà huyện Thanh Quan)
Cùng trông lại nhưng cùng chẳng thấy

Thđó xanh xanh những mấy nghìn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lóng chàng ý thiếp người nào sầu hơn người nào?
(Sau phút chia li – Bản dịch Đoàn Thị Điểm)
Thân em thời trắng phận em tròn

Bảy nổi ba chìm mấy nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Nhưng em vẫn giữ tấm lòng son
(Bánh trôi nước – Hồ Xuân Hương)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

.


Thông tin thêm

Top 6 Bài soạn “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” của Đặng Thai Mai lớp 7 hay nhất

[rule_3_plain]

“Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa – Ống tre ngà và mềm mại như tơ”
Tiếng Việt từ muôn thuở vẫn là kho báu ý thức vô giá của dân tộc. Tiếng Việt lưu giữ hồn cốt, những trị giá văn hóa, lịch sử của tổ quốc qua nghìn đời lửa cháy. Chúng ta vẫn tìm về tiếng Việt như một cách để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc với những gì thân thiện, thân yêu, trìu mến nhất. Thứ tiếng nói đó đã ngấm vào trong từng đường gân thớ thịt của chúng ta, gắn bó với ta từ thuở còn trong nôi qua những lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ. Vì lẽ đó, ta yêu quý, tự hào xiết bao thứ tiếng đã cùng ta lớn lên thành người. Tác giả Đặng Thai Mai cũng có một bài viết để ngợi ca sự giàu đẹp của tiếng Việt. Mời các bạn tham khảo một số bài soạn “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” lớp 7 hay nhất nhưng Thư Viện Hỏi Đáp đã tổng hợp trong bài viết dưới đây.

1

0

1

0

Bài soạn “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” số 1

I. Đôi nét về tác giả Đặng Thai Mai- Đặng Thai Mai (1902-1984) quê ở làng Lương Điền, xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An- Ông là nhà văn, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng, nhà hoạt động xã hội có uy tín.- Trước Cách mệnh tháng Tám năm 1945, ông vừa dạy học, hoạt động cách mệnh, vừa sáng tác và nghiên cứu văn học- Từ sau Cách mệnh tháng Tám năm 1945, ông giữ nhiều trọng tách trong bộ máy chính quyền và các cơ quan văn nghệ, đồng thời viết một số công trình nghiên cứu văn học có trị giá lớn- Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Gicửa ải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuậtII. Đôi nét về tác phẩm Sự giàu đẹp của Tiếng Việt1. Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ“Sự giàu đẹp của tiếng Việt” (tên bài do người soạn sách đặt) là đoạn trích ở phần đầu của bài nghiên cứu “Tiếng Việt, một biểu lộ hùng hồn của sức sống dân tộc”, in lần đầu vào năm 1967, được bổ sung và đưa vào “Tuyển tập Đặng Thai Mai, tập II”2. Bố cục (2 phần)- Phần 1 (từ đầu tới “qua các thời kì lịch sử”): Nhận định chung về sự giàu đẹp của tiếng Việt- Phần 2 (còn lại): Chứng minh sự giàu đẹp của tiếng Việt3. Giá trị nội dungBài văn đã chứng minh sự giàu có và xinh tươi của tiếng Việt trên nhiều phương diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Tiếng Việt, với những phẩm chất vững bền và giàu khả năng thông minh trong quá trình tăng trưởng trong khoảng thời gian dài của nó, là một biểu lộ hùng hồn của sức sống dân tộc4. Giá trị nghệ thuật- Liên kết khôn khéo giữa lập luận giảng giải và lập luận chứng minh, bình luận- Lập luận chặt chẽ- Dẫn chứng phong phú, bao quát toàn diện- Câu văn mạch lạc, trong sáng, sử dụng nhiều giải pháp mở rộng câu

III. Hướng dẫn soạn bài
Câu 1 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)
Phần 1 (đoạn 1, 2): Tiếng Việt đẹp và hay (luận điểm chính, tổng quát)
Phần 2 (còn lại): Chứng minh sự giàu đẹp, phong phú của tiếng Việt.

Câu 2 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)
Nhận định Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp và hay được trình diễn:
+ Câu mở đầu khẳng định trị giá, vị thế của tiếng Việt
+ Vế thứ hai, giảng giải ngắn gọn nhận định đó.

Câu 3 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)
Để chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt, tác giả trình diễn những ý kiến theo 2 phương thức: trực tiếp, gián tiếp.
+ Tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp, cái đẹp ở mặt ngữ âm
+ Ý kiến của một người nước ngoài: ấn tượng của họ lúc nghe người Việt nói, nhận xét của những người am tường tiếng Việt như các giáo sĩ nước ngoài
+ Hệ thống nguyên âm và phụ âm giàu thanh điệu, phong phú

Câu 4 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)
Sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt được trình bày qua: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp
– Ngữ âm: Hệ thống nguyên âm, phụ âm phong phú, giàu thanh điệu
– Từ vựng: dồi dào trị giá thơ, nhạc, họa, gợi hình, giàu nhạc điệu
– Ngữ pháp: tiếng Việt rất uyển chuyển, nhịp nhàng
+ Ví dụ: sự hài hòa về thanh điệu, sự phong phú về ngôn từ trong Truyện Kiều hoặc trong Chinh phụ ngâm, thơ của Tố Hữu…
⇒ Tác giả làm nổi trội sự giàu có của tiếng Việt, chính là sự thông minh từ ngữ mới thích hợp với sự tăng trưởng của xã hội

Câu 5 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)
Điểm nổi trội trong nghệ thuật nghị luận ở bài văn này:
– Tác giả liên kết hài hòa giữa giảng giải, chứng minh với bình luận
– Lập luận chặt chẽ: nhận định ngay phần mở bài, tiếp đó chứng minh
– Tác giả đã phải sử dụng một hệ thống chặt chẽ: nêu nhận định nói chung, giảng giải bằng nhiều phương thức linh hoạt
– Sử dụng giải pháp mở rộng câu nhằm làm rõ nghĩa giống như vừa ghi chú, vừa bổ sung thêm nhiều khía cạnh mới hoặc mở rộng điều đang nói.

Luyện tập
Câu 1 (trang 37 SGK): Sưu tầm, ghi lại những ý kiến nói về sự giàu đẹp, phong phú của tiếng Việt và nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
+ Phạm Văn Đồng: “Tiếng Việt của chúng ta rất giàu. Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp. Giàu bởi kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân ta lâu đời và phong phú. Đẹp bởi tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp. Hai nguồn của cái giàu, cái đẹp đó là ở chỗ tiếng Việt là tiếng nói của nhân dân, đầy tình cảm, màu sắc và âm điệu, hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đầy ý nghĩa; đồng thời nó là tiếng nói của văn học nhưng những thi sĩ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… và những nhà văn, thi sĩ ngày nay ở miền Bắc và miền Nam đã nâng lên tới trình độ rất cao về nghệ thuật.”

Câu 2 (trang 37 SGK):Năm dẫn chứng trình bày sự giàu đẹp của tiếng Việt về ngữ âm và từ vựng trong các bài văn, thơ đã học hoặc đọc thêm ở các lớp 6, 7.
– Thân gầy guộc, lá mỏng manh
Nhưng sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu
(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)
– Chú nhỏ loắt choắt,
Cái xắc xinh xinh,
Cái chân thoăn thoắt,
Cái đầu nghênh nghênh.
(Lượm – Tố Hữu)
– Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
(Tục ngữ)
– Ông trời
Mặc áo giáp đen
Ra trận
Muôn nghìn cây mía
Múa gươm
Kiến
Hành quân
Đầy đường
(Mưa – Trần Đăng Khoa)
– Càng đổ dần về hướng mũi Cà Mau thì sông ngòi, kênh rạch càng bủa giăng dày đặc như mạng nhện.
Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng.
Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn nghìn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao vút như hai dãy trường thành vô tận.
(Sông nước Cà Mau)

Ý nghĩa – Nhận xét
– Qua những lí lẽ, chứng cứ chặt chẽ và toàn diện của tác giả, học trò nhận thấy được sự giàu có và xinh tươi của tiếng Việt trên nhiều phương diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Đồng thời, học trò còn trông thấy được những phẩm chất bền vừng và giàu khả năng thông minh trong quá trình tăng trưởng trong khoảng thời gian dài của tiếng nói dân tộc, nó là một biểu lộ hùng hồn cho sức sống của dân tộc.
– Học trò từ bài học, thêm yêu quý tiếng nói mẹ đẻ và có ý thức giữ gìn vẻ đẹp, sự trong sáng của tiếng Việt.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

(adsbygoogle = window.adsbygoogle || []).push({});

2

0

2

0

Bài soạn “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” số 2

I. Một vài nét về tác giả
– Đặng Thai Mai (1902-1984) quê ở làng Lương Điền, xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
– Ông là nhà văn, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng, nhà hoạt động xã hội có uy tín.
– Trước Cách mệnh tháng Tám năm 1945, ông vừa dạy học, hoạt động cách mệnh, vừa sáng tác và nghiên cứu văn học.
– Từ sau Cách mệnh tháng Tám năm 1945, ông giữ nhiều trọng trách trong bộ máy chính quyền và các cơ quan văn nghệ, đồng thời viết một số công trình nghiên cứu văn học có trị giá lớn.
– Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Gicửa ải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

II. Kiến thức cơ về tác phẩm
1. Hoàn cảnh sáng tác
“Sự giàu đẹp của tiếng Việt” (tên bài do người soạn sách đặt) là đoạn trích ở phần đầu của bài nghiên cứu “Tiếng Việt, một biểu lộ hùng hồn của sức sống dân tộc”, in lần đầu vào năm 1967, được bổ sung và đưa vào “Tuyển tập Đặng Thai Mai, tập II”.

2. Bố cục
– Phần 1 (từ đầu tới “qua các thời kỳ lịch sử”): Nhận định chung về sự giàu đẹp của tiếng Việt
– Phần 2 (còn lại): Chứng minh sự giàu đẹp của tiếng Việt

3. Tìm hiểu văn bản
a. Vẻ đẹp của tiếng Việt:
Đọc đoạn: “Từ đầu … qua các thời kỳ lịch sử”.
Câu mở đầu nêu lên điều gì?
– Khẳng định trị giá và địa vị của Tiếng Việt.
Các câu còn lại có nhiệm vụ gì?
– Câu 3 nêu luận điểm, câu 4, 5 giảng giải, mở rộng luận điểm.
Cái đẹp và cái hay được giảng giải là gì?
Cái đẹp:
– Hài hoà về âm hưởng, thanh điệu;
– Tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu.
Cái hay:
– Có đầy đủ khả năng để diễn tả tình cảm, tư tưởng của con người;
– Thoả mãn các yêu cầu tăng trưởng của xã hội.
* Tiếng Việt hài hòa về mặt âm hưởng (là sự hòa hợp về mặt âm thanh, thanh điệu; rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu; có đầy đủ khả năng để diễn tả tư tưởng, tình cảm và trình bày cái nhìn, tầm văn hoa uyên bác ở người viết).
* Tóm lại rực rỡ của đoạn văn nêu vấn đề là ở chỗ: nó rất mạch lạc và mẫu mực về bố cục tới từng câu văn, từng hình ảnh.
– Tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp trước hết đẹp về mặt ngữ âm.
– Tiếng Việt là một thứ tiếng giàu chất nhạc, rất lành mạnh trong lối nói, uyển chuyển trong cách đặt câu, ngon lành trong tục ngữ.
b. Chứng minh sự giàu đẹp của tiếng Việt:
Đọc đoạn “Tiếng Việt trong cấu … câu tục ngữ”.
Câu trước nhất của đoạn có tác dụng gì?
– Nêu đặc điểm cần chứng minh của đoạn là T.Việt khá đẹp.
Tác giả chứng minh tiếng Việt đẹp với mấy dẫn chứng?
– Với 2 dẫn chứng: Thực tế, khách quan tiêu biểu.
– Nhận xét của người ngoại quốc sang thăm nước ta: “Tiếng Việt là một thứ tiếng giàu chất nhạc”.
– Trích một lời dẫn của một giáo sĩ nước ngoài: “Tiếng Việt là một thứ tiếng “đẹp” và “rất rành mạch trong lối nói, rất uyển chuyển trong dụ dỗ, rất ngon lành trong những câu tục ngữ”.
* Đọc đoạn “Tiếng Việt chúng ta … văn nghệ”
Tiếp theo tác giả chứng minh và giảng giải sự giàu đẹp và có khả năng phong phú của TV được trình bày ở những phương diện nào?
– Hệ thống nguyên âm và phụ âm phong phú, giàu thanh điệu (6 thanh).
– Từ vựng dồi dào, giàu chất thơ, nhạc, họa.
– Ngữ pháp cũng dần uyển chuyển, chuẩn xác, hài hòa, hợp lý.
– Tiếng Việt có khả năng thỏa mãn mọi nhu cầu của đời sống văn hóa ngày một tăng trưởng về mọi mặt: kinh tế, chính trị, khoa học …
Hãy tìm một số dẫn chứng để làm rõ các nhận định của tác giả?
– Từ mới xuất hiện: Mat tinh, in-tơ-net.
– Tiếng nước ngoài được việt hóa: xà phòng, oto, tivi.
* Tóm lại: Cái đẹp, cái hay của Tiếng Việt trình bày qua:
– Nguyên âm, phụ âm phong phú.
– Thanh điệu giàu có.
– Từ vựng dồi dào, ngày một nhiều, giàu chất thơ, nhạc, họa.
– Ngữ pháp dần uyển chuyển, chuẩn xác, hài hòa, hợp lý.

4. Giá trị nghệ thuật
– Liên kết khôn khéo giữa lập luận giảng giải và lập luận chứng minh, bình luận.
– Lập luận chặt chẽ.
– Dẫn chứng phong phú, bao quát toàn diện.
– Câu văn mạch lạc, trong sáng, sử dụng nhiều giải pháp mở rộng câu.

III. Trả lời câu hỏi trong sgk
Câu 1 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)
Phần 1 (đoạn 1, 2): Tiếng Việt đẹp và hay (luận điểm chính, tổng quát)
Phần 2 (còn lại): Chứng minh sự giàu đẹp, phong phú của tiếng Việt.

Câu 2 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)
Nhận định Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp và hay được trình diễn:
+ Câu mở đầu khẳng định trị giá, vị thế của tiếng Việt.
+ Vế thứ hai, giảng giải ngắn gọn nhận định đó.

Câu 3 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)
Để chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt, tác giả trình diễn những ý kiến theo 2 phương thức: trực tiếp, gián tiếp.
+ Tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp, cái đẹp ở mặt ngữ âm.
+ Ý kiến của một người.

Câu 4 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)
Sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt được trình bày qua: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp
– Ngữ âm: Hệ thống nguyên âm, phụ âm phong phú, giàu thanh điệu.
– Từ vựng: dồi dào trị giá thơ, nhạc, họa, gợi hình, giàu nhạc điệu.
– Ngữ pháp: tiếng Việt rất uyển chuyển, nhịp nhàng.
+ Ví dụ: sự hài hòa về thanh điệu, sự phong phú về ngôn từ trong Truyện Kiều hoặc trong Chinh phụ ngâm, thơ của Tố Hữu….
⇒ Tác giả làm nổi trội sự giàu có của tiếng Việt, chính là sự thông minh từ ngữ mới thích hợp với sự tăng trưởng của xã hội.

Câu 5 (trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2)
Điểm nổi trội trong nghệ thuật nghị luận ở bài văn này:
– Tác giả liên kết hài hòa giữa giảng giải, chứng minh với bình luận.
– Lập luận chặt chẽ: nhận định ngay phần mở bài, tiếp đó chứng minh.
– Tác giả đã phải sử dụng một hệ thống chặt chẽ: nêu nhận định nói chung, giảng giải bằng nhiều phương thức linh hoạt.
– Sử dụng giải pháp mở rộng câu nhằm làm rõ nghĩa giống như vừa ghi chú, vừa bổ sung thêm nhiều khía cạnh mới hoặc mở rộng điều đang nói.nước ngoài: ấn tượng của họ lúc nghe người Việt nói, nhận xét của những người am tường tiếng Việt như các giáo sĩ nước ngoài.
+ Hệ thống nguyên âm và phụ âm giàu thanh điệu, phong phú.

II. Luyện tập
Câu 1 (trang 37 sgk Ngữ văn tập 2)
Phạm Văn Đồng: “Tiếng Việt của chúng ta rất giàu. Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp. Giàu bởi kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân ta lâu đời và phong phú. Đẹp bởi tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp. Hai nguồn của cái giàu, cái đẹp đó là ở chỗ tiếng Việt là tiếng nói của nhân dân, đầy tình cảm, màu sắc và âm điệu, hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đầy ý nghĩa; đồng thời nó là tiếng nói của văn học nhưng những thi sĩ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… và những nhà văn, thi sĩ ngày nay ở miền Bắc và miền Nam đã nâng lên tới trình độ rất cao về nghệ thuật.”
Câu 2 (trang 37 sgk Ngữ văn tập 2)
Dẫn chứng thể hiện sự giàu đẹp của tiếng Việt về ngữ âm và từ vựng :
– “Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bón lồng hoa.”
(Cảnh khuya – Hồ Chí Minh)
– “Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây xen lá đá chen hoa
Lom khom dưới núi tiêu vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.”

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3

0

3

0

Bài soạn “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” số 3

TÌM HIỂU CHUNG VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM1. Tác giả- Đặng Thai Mai (1902 – 1984) quê ở làng Lương Điền, xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An- Là nhà văn, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng, nhà hoạt động xã hội có uy tín.- Trước Cách mệnh tháng Tám 1945, ông vừa dạy học, hoạt động cách mệnh vừa sáng tác và nghiên cứu văn học.- Từ sau năm 1945, ông giữ nhiều trọng trách trong bộ máy chính quyền và các cơ quan văn nghệ, đồng thời viết một số công trình nghiên cứu văn học có trị giá lớn.- Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Gicửa ải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.2. Tác phẩm- Bài Sự giàu đẹp của tiếng Việt là đoạn trích ở phần đầu của bài nghiên cứu Tiếng Việt, một biểu lộ hùng hồn của sức sống dân tộc, in lần đầu vào năm 1967, được bổ sung và đưa vào Tuyển tập Đặng Thai Mai, tập II.- Bố cục: 2 phần+ Phần 1. Từ đầu tới… “các thời kì lịch sử”: Nêu nhận định tiếng Việt là một thức tiếng đẹp, một thứ tiếng hay, giảng giải nhận định đó.+ Phần 2. Còn lại: Chứng minh cái đẹp và cái hay của tiếng Việt.ĐỌC – HIỂU VĂN BẢNCâu 1 – Trang 37 SGKTìm bố cục của bài văn và nêu ý chính của mỗi đoạn. Trả lời: – Bài văn có bố cục gồm hai đoạn:+ Đoạn 1 (Từ đầu tới … “thời kì lịch sử”): Nêu nhận định tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay, giảng giải nhận định đó.+ Đoạn 2 (phần còn lại): Chứng minh cái đẹp và sự giàu có, phong phú (cái hay) của tiếng Việt về các mặt: ngữ âm, từ vựng, cú pháp. Sự giàu đẹp đó cũng là một chứng cứ về sức sống của Tiếng Việt.Câu 2 – Trang 37 SGKHãy cho biết nhận định: “Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay” đã được giảng giải cụ thể trong đoạn đầu bài văn như thế nào?Trả lời:Nhận định “Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay” được giảng giải cụ thể trong đoạn đầu bài văn như sau:+ Câu mở đầu khẳng định trị giá, vị thế của tiếng Việt, từ đó đưa ra luận điểm cơ bản bao trùm: “Tiếng Việt có những rực rỡ… hay”+ Tiếp đó tới vế thứ hai, tác giả giảng giải ngắn gọn nhưng rõ ràng về đặc tính đẹp và hay của tiếng Việt.Câu 3 – Trang 37 SGKĐể chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt, tác giả đã đưa ra những chứng cứ gì và sắp xếp các chứng cứ đó như thế nào?Trả lời:Để chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt, tác giả đã đưa ra những chứng cứ sau:- Tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp, cái đẹp trước hết ở mặt ngữ âm.- Ý kiến của người nước ngoài: Ấn tượng của họ lúc nghe người Việt nói nhận xét của những người am tường tiếng Việt như các giáo sĩ nước ngoài.- Hệ thống nguyên âm và phụ âm phong phú, giàu thanh điệu (6 thanh)- Uyển chuyển, hợp lý, nhịp nhàng về mặt cú pháp.- Từ vựng dồi dào trị giá thơ, nhạc, họa.- Tiếng Việt là một thứ tiếng hay.- Có khả năng dồi dào về cấu tạo từ ngữ, hình thức diễn tả và ngữ pháp. Cấu tạo và khả năng thích ứng với sự tăng trưởng là một biểu lộ về sức sống dồi dào của tiếng Việt.Câu 4 – Trang 37 SGKSự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt đã được trình bày ở những phương diện nào? Em hãy tìm một số dẫn chứng cụ thể để làm rõ các nhận định của tác giả.Trả lời: Sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt được trình bày qua: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp.- Về ngữ âm: Hệ thống nguyên âm, phụ âm phong phú, giàu thanh điệu- Về từ vựng: dồi dào trị giá thơ, nhạc, họa, gợi hình, giàu nhạc điệu- Về ngữ pháp: tiếng Việt rất uyển chuyển, nhịp nhàngVí dụ: sự hài hòa về thanh điệu, sự phong phú về ngôn từ trong Truyện Kiều hoặc trong Chinh phụ ngâm, thơ của Tố Hữu…⇒ Tác giả làm nổi trội sự giàu có của tiếng Việt, chính là sự thông minh từ ngữ mới thích hợp với sự tăng trưởng của xã hộiCâu 5* – Trang 37 SGKĐiểm nổi trội trong nghệ thuật nghị luận của bài là gì?Trả lời:Phép lập luận chứng minh của tác giả trong bài này rất chặt chẽ và có sức thuyết phục, bởi vì:- Lập luận chặt chẽ: đưa nhận định ngay ở phần mở bài, tiếp đó giảng giải và mở rộng nhận định đó, sau đó dùng các chứng cứ để chứng minh.- Các dẫn chứng được dẫn khá toàn diện, bao quát, ko sa vào những dẫn chứng quá cụ thể, tỉ mỉ. Nhưng chính vì thế người đọc phải có những hiểu biết cụ thể để minh họa cho chứng cứ.- Sử dụng giải pháp mở rộng câu nhằm làm rõ nghĩa giống như vừa ghi chú, vừa bổ sung thêm nhiều khía cạnh mới hoặc mở rộng điều đang nói.LUYỆN TẬPCâu 1 – Trang 37 SGKSưu tầm, ghi lại những ý kiến nói về sự giàu đẹp, phong phú của tiếng Việt và nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.Trả lời: Tham khảo 2 ý kiến sau đây của đồng chí Phạm Văn Đồng và thi sĩ Xuân Diệu:- “Tiếng Việt của chúng ta rất giàu, tiếng ta giàu bởi đời sống của chúng ta muôn màu, đời sống tư tưởng và tình cảm dồi dào của dân tộc ta… Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp; đẹp như thế nào, đó là điều khó nói…”(Phạm Văn Đồng – Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt)- “Hai nguồn giàu đẹp của tiếng Việt là tiếng nói của quần chúng nhân dân và tiếng nói văn học nhưng các thi sĩ lớn đã nâng lên tới mức cao. Tiếng nói hằng ngày của quần chúng nhân dân lao động, trong đấu tranh, trong quan hệ xã hội, cụ thể, sinh động, có hình ảnh, màu sắc và nhạc điệu: Tiếng nói đó kết đọng lại rất hay, rất đẹp trong tục ngữ và ca dao…”(Xuân Diệu – Tâm tình với các em về tiếng Việt)Câu 2 – Trang 37 SGKTìm 5 dẫn chứng trình bày sự giàu đẹp của tiếng Việt về ngữ âm, từ vựng trong các bài văn, thơ đã học hoặc đọc thêm ở các lớp 6, 7.Trả lời:Sự giàu đẹp của tiếng Việt về ngữ âm và từ vựng trình bày cụ thể ở các dẫn chứng:- Những câu thơ đầy chất nhạc trong bài thơ Lượm của Tố Hữu:Chú nhỏ loắt choắtCái xắc xinh xinhCái chân thoăn thoắtCái đầu nghênh nghênhCa nô đội lệchMồm huýt sáo vangNhư con chim chíchNhảy trên đường vàng- Những câu văn đầy chất thơ trích trong văn bản Mùa xuân của tôi của tác giả Vũ Bằng: “Thường thường vào khoảng đó trời đã hết nồm, mưa xuân mở màn thay thế cho mưa phùn, ko còn làm cho nền trời đùng đục như màu pha lê mờ. Sáng dậy, nằm dài nhìn ra cửa sổ thấy những vệt xanh tươi hiện ở trên trời, mình cảm thấy một thú vui sáng sủa. Trên giàn hoa lí vài con ong siêng năng bay đi kiếm nhị hoa. Chỉ độ tám, chín giờ sáng, trên nền trời trong trong có những làn sáng hồng hồng rung động như cánh con ve mới lột”.- Những câu thơ đầy chất họa trong bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh:Tiếng suối trong như tiếng hát xaTrăng lồng cổ thụ bóng lồng hoaCảnh khuya như vẽ người chưa ngủChưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.- Những câu thơ gợi hình ảnh kiên cường, hào hùng của cây tre Việt Nam trong thơ Nguyễn Duy:Thân gầy guộc, lá mong manhMà sao nên luỹ nên thành tre ơi?Ở đâu tre cũng xanh tươiCho dù đất sỏi đất vôi bạc màu.TỔNG KẾTBằng những lí lẽ, chứng cứ chặt chẽ và toàn diện, bài văn đã chứng minh sự giàu có và xinh tươi của tiếng Việt trên nhiều phương diện: Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Tiếng Việt, với những phẩm chất vững bền và giàu khả năng thông minh trong quá trình tăng trưởng trong khoảng thời gian dài của nó, làm một biểu lộ hùng hồn sức sống của dân tộc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4

0

4

0

Bài soạn “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” số 4

I. Tác giả, tác phẩm
1. Tác giả
Đặng Thai Mai quê ở Nghệ AnÔng là nhà văn, nhà nghiên cứu nổi tiếngÔng từng giữ nhiều trọng trách trong bộ máy chính quyền và các cơ quan văn nghệ
2. Tác phẩm
Văn bản Sự giàu đẹp của tiếng Việt là đoạn trích ở phần đầu của bài nghiên cứu Tiếng Việt, một biểu lộ hùng hồn của sức sống dân tộc , được in lần đầu vào năm 1967, được bổ sung và đưa vào Tuyển tập Đặng Thai Mai, tập II.

II. Hướng dẫn soạn bài
Câu 1:
Văn bản có thể được chia làm 2 đoạn:
Đoạn 1: từ đầu => “qua các thời kì lịch sử” : Nêu lên nhận định tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay và tác giả giảng giải nhận định đó.Đoạn 2: còn lại : chứng minh cái đẹp và sự giàu có, phong phú của tiếng Việt qua những mặt: ngữ âm, từ vựng, cú pháp. Sự giàu đẹp đó cũng là một chứng cứ về sức sống của tiếng Việt.

Câu 2:
Nhận định “Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay” đã được giảng giải cụ thể trong đoạn đầu bài văn này như sau:
Câu mở đầu khẳng định trị giá và địa vị của tiếng Việt, từ đó đưa ra luận điểm cơ bản bao trùm: Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay. Tiếp sau đó, tác giả giảng giải ngắn gọn, rõ ràng về đặc tính đẹp và hay của tiếng Việt.Câu 3:

Để chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt, tác giả đã đưa ra những chứng cứ thuyết phục cùng với cách lập luận chặt chẽ theo trình tự như sau:
Tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp, cái đẹp trước hết ở mặt ngữ âmNêu ra ý kiến của người nước ngoài – một giáo sĩ thạo tiếng Việt để khẳng định lí lẽTiếng Việt có hệ thống nguyên âm, phụ âm phong phú, giàu thanh điệu

Câu 4:
Sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt được trình bày ở những phương diện:
Tiếng Việt có hệ thống nguyên âm phong phú, giàu thanh điệuTiếng Việt uyển chuyển, hợp lý, nhịp nhàng về mặt cú phápTừ vựng dồi dào trị giá thơ, nhạc, họaCó khả năng dồi dào về cấu tạo từ ngữ, hình thức diễn tả và ngữ pháp. Cấu tạo và khả năng thích ứng với sự tăng trưởng là một biểu lộ về sức sống dồi dào của tiếng Việt.

Câu 5:
Điểm nổi trội trong nghệ thuật nghị luận ở bài văn này là:
Liên kết giảng giải với chứng minh và bình luận.Lập luận chặt chẽ: nêu nhận định ngay ở phần mở bài, sau đó là giảng giải và mở rộng nhận định đó, cuối cùng dùng các chứng cứ để chứng minhNhững dẫn chứng khá toàn diện, bao quát, ko sa vào trường hợp quá cụ thể, tỉ mỉ.Về cấu trúc câu, tác giả thường sử dụng giải pháp mở rộng câu, vừa để làm rõ nghĩa, vừa để bổ sung các khía cạnh mới hoặc mở rộng thêm ý.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5

0

5

0

Bài soạn “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” số 5

I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
Câu 1. Bố cục: Gồm ba phần:
– Phần mở bài (Nêu vấn đề): Từ đầu cho tới “… đời sống văn hóa nước nhà qua các thời kì lịch sử”.
Ý chính: Người Việt Nam có thể tự hào và tin tưởng vào tiếng Việt, một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay.
– Phần thân bài (Chứng minh vấn đề): Từ chỗ “Tiếng Việt, trong cấu tạo của nó…” cho tới “…mọi mặt kinh tế, chính trị, khoa học, kĩ thuật, văn nghệ…”
Ý chính: Tiếng Việt đẹp và hay về các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và ngày càng tăng trưởng để thỏa mãn mọi yêu cầu của xã hội.
– Phần kết luận (Kết thúc vấn đề): Câu cuối của bài.
Ý chính: Khẳng định sức sống của tiếng Việt.

Câu 2. Nhận định “Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay” đã được giảng giải cụ thể trong đoạn đầu bài văn này như sau:
– Tiếng Việt hài hòa về mặt âm hưởng, thanh điệu.
– Tiếng Việt rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu.
– Tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn tả tình cảm, tư tưởng của người Việt Nam.

Câu 3. Tác giả đã chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt với nhiều chứng cứ được sắp xếp như sau:
+ Nêu một số ý kiến của người nước ngoài:
– Người nước ngoài tuy chưa hiểu tiếng ta, nhưng nghe người Việt Nam nói họ đã thấy tiếng Việt rất giàu nhạc tính.
– Một giáo sư nước ngoài nhận định rằng tiếng Việt đẹp và rất rành mạch trong lời nói, rất uyển chuyển trong dụ dỗ, rất ngon lành trong những câu tục ngữ.
+ Phân tích đặc điểm của tiếng Việt để chứng minh:
– Tiếng Việt gồm hệ thống nguyên âm và phụ âm khá phong phú.
– Tiếng Việt giàu về thanh điệu, giàu hình tượng ngữ âm như âm giai trong âm nhạc.

Câu 4. Sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt được trình bày ở những phương diện sau:
– Từ vựng tiếng Việt luôn được bổ sung ngày càng nhiều thêm để biểu lộ các khái niệm mới.
– Ngữ pháp cũng ngày càng tăng trưởng uyển chuyển hơn, chuẩn xác hơn.
– Tiếng Việt có khả năng thỏa mãn mọi yêu cầu của đời sống văn hóa ngày càng phức tạp hơn về mọi mặt kinh tế, chính trị, khoa học, kĩ thuật, văn nghệ…
Sau đây là một số dẫn chứng để làm rõ thêm các nhận định của tác giả:
Ví dụ về mặt từ vựng, tiếng Việt đã Việt hóa nhiều từ Hán để sử dụng trong việc viết các văn bản hoặc trong giao tiếp hàng ngày. Các từ độc lập, tự do, hạnh phúc, học tập, công việc, sắp đặt, phân công, lãnh đạo, cán bộ, quản lý, hiệu trưởng, học trò, thầy cô giáo, giám thị, giám khảo, lưu bút, kỉ niệm, kí ức, khoa học, mĩ nghệ, văn bản, nghị luận… đã trở thành quá thân thuộc và thông dụng đối với người Việt Nam. Nhiều thứ tiếng nước ngoài khác cũng đã trở thành tiếng Việt như: Xô viết, xà bông, oto, ti vi, mít tinh, cà vạt, (áo) sơ mi, (khăn) mùi soa, xa lông, com pa…

Câu 5. Điểm nổi trội trong nghệ thuật nghị luận ở bài văn này là: Với lối văn thật trong sáng, mạch lạc, tác giả đã đưa ra những lí lẽ chặt chẽ kèm theo các dẫn chứng xác đáng để chứng minh sự giàu đẹp của tiếng Việt về các mặt: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp tạo nên một sức thuyết phục cao.

Ghi nhớ:
Bằng những lí lẽ, chứng cứ chặt chẽ và toàn diện, bài văn đã chứng minh sự giàu có và xinh tươi của tiếng Việt trên nhiều phương diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Tiếng Việt, với những phẩm chất vững bền và giàu khả năng thông minh trong quá trình tăng trưởng trong khoảng thời gian dài của nó, là một biểu lộ hùng hồn sức sống của dân tộc.

II. LUYỆN TẬP
1. Việc sưu tầm các em tự làm.
2. Năm dẫn chứng trình bày Sự giàu đẹp về ngữ âm và từ vựng trong các bài văn thơ đã học, đã đọc:
“Sau trận bão, chân trời, ngấn bể sạch như tấm kính lau hết mây, hết bụi. Mặt trời như lên dần dần, rồi lên cho kì hết. Tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng tự nhiên đầy đặn. Quả trứng hồng hào, thăm thẳm và đường bệ đặt lên một mâm bạc, đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển ửng hồng. Y như một mâm lễ vật tiến ra từ trong rạng đông để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở biển Đông. Vài chiếc nhạn mùa thu chao đi chao lại trên mâm bể sáng dần lên cái chất bạc nén. Một con hải âu bay ngang, tà tà nhịp cánh”.
(Trích bài “Cô Tô” của Nguyễn Tuân)
“Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ
Mùi hoa thiên lí thoảng chiều thu
Con cò bay lả trong câu hát
Giấc trẻ say dài nhịp võng ru…

Lúa trổ đòng tơ, ngậm cốm non
Lá dài vươn sắc lưỡi gươm con
Tiếng chim méc lẻo cây hồng chín
Điểm nhạt da trời những chấm son…”
(Trích bài “Chiều thu” của Nguyễn Bính)
“Thuyền chúng tôi chèo thoát qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con sông Cửa Lớn, xuôi về Năm Căn. Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn nghìn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao vút như hai dãy trường thành vô tận…”.
(Trích bài “Sông nước Cà Mau” của Đoàn Giỏi)
“Mỗi lần có dịp đứng trên cầu Long Biên, tôi lại say mê ngắm nhìn màu xanh bãi mía, nương dâu, bãi ngô, vườn chuối phía Gia Lâm ko bao giờ chán mắt. Cái màu xanh cần lao đó gợi bao mến thương và yên tĩnh trong tâm hồn. Khi chiều xuống, nhìn về phía Hà Nội thấy những ánh đèn mọc lên như sao sa, gợi lên bao quyến rũ khát khao… Rồi những ngày nước lên cao, gần ngấp nghé thân cầu. Đứng trên cầu, nhìn dòng sông Hồng đỏ rực nước cuồn cuộn chảy với sức mạnh ko gì ngăn nổi, nhấn chìm bao màu xanh thân yêu, bao làng mạc trù phú đôi bờ, tôi cảm thấy chiếc cầu như chiếc võng đung đưa, nhưng vẫn dẻo dai, vững chắc”.
(Trích bài “Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử” của Thúy Lan)
“Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Nhưng lúc về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát
Người tới hát lúc chèo đò, kéo thuyền vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi
Người dạy ta nghèo ăn cháo ăn rau
Biết ăn ớt để xí gạt cái lưỡi
Cái cuốc con dao xí gạt cái tuổi
Chén rượu xí gạt cơn mỏi, cơn đau
Con nộm nang tre xí gạt cái chết
Xí gạt cái rét là ăn miếng trầu
Xí gạt thuồng luồng xăm mình, xăm mặt
Xí gạt thằng giặc là truyện Trạng Quỳnh
Nhưng lạ lùng thay nhân dân thông minh
Không hề lừa ta dù ca dao, cổ tích…”
(Trích bài tha “Tổ quốc” của Nguyễn Khoa Điềm)
Kết quả cần đạt
Hiểu được sự giàu đẹp của tiếng Việt qua sự phân tích, chứng minh trong bài nghị luận giàu sức thuyết phục của Đặng Thai Mai. Nắm được những điểm nổi trội trong nghệ thuật nghị luận của bài văn.Nắm được các đặc điểm về nội dung và hình thức của trạng ngữ, trông thấy các loại trạng ngữ trong câu.Nắm được mục tiêu, tính chất và các yếu tố của phép lập luận chứng minh.Chú thích (thêm)
Tự hào: lấy làm ưng ý và hãnh diện về cái tốt đẹp nhưng mình có.Xã giao: giao thiệp phổ biến trong xã hội.Nhân chứng: người làm chứng.Phương diện: một mặt nào đó của vấn đề.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6

0

6

0

Bài soạn “Sự giàu đẹp của tiếng Việt” số 6

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM
1. Tác giả
Đặng Thai Mai (1902 – 1984), quê ở làng Lương Điền, xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, Nghệ AnLà nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng, nhà hoạt động xã hội có uyTrước cách mệnh 1945, ông vừa dạy học vừa tham gia hoạt động cách mệnh, sáng tác và nghiên cứu văn học.Sau 1945, ông giữ nhiều trọng trách trong bộ máy chính quyền và cơ quan văn nghệ,viết một vài công trình nghiên cứu có trị giá lớnNăm 1996, ông được nhà nước trao tặng Gicửa ải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật

2. Tác phẩm:
Tên bài do người soạn sách đặt, là đoạn trích phần đầu của bài nghiên cứu Tiếng việt, một biểu lộ hùng hồn của sức sống dân tộc, in lần đầu năm 1967, được bổ sung và tuyển chọn và đưa vào Tuyển tập Đặng Thai Mai, tập II

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI
Câu 1: Trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2
Tìm bố cục của bài và nêu ý chính của mỗi đoạnBài làm:Đây chỉ là một đoạn trích nên bố cục ko hoàn chỉnh. Có thể phân thành các phần như sau:Phần mở đầu (đoạn 1, 2): Nêu luận điểm nói chung, lí do tự hào về tiếng Việt và tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hayPhần triển khai (còn lại): Vẻ đẹp và sức sống của tiếng Việt. Phần này gồm hai ý:Từ “Tiếng Việt, trong cấu tạo của nó..” tới “..rất ngon lành trong những câu tục ngữ”: Tiếng Việt trong con mắt người nước ngoài; Từ “Tiếng Việt chúng ta gồm có..” tới hết: Những yếu tố tạo nên vẻ đẹp và sức sống của tiếng Việt.
Câu 2: Trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2Hãy cho biết nhận định “Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay” được giảng giải cụ thể trong đoạn đầu bài văn này như thế nào.Bài làm:Nhận định “Tiếng Việt có những rực rỡ của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay” được giảng giải khá rõ ràng bằng hai luận cứ qua một cấu trúc lặp có nhịp độ: “nói thế có tức là nói rằng…” gồm hai vế. Ở vế thứ nhất (luận cứ 1), tác giả nêu những đặc trưng cơ bản của tiếng Việt “hài hoà về mặt âm hưởng, thanh điệu nhưng cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu..”Ở vế thứ hai( luận cứ 2), tiếp nối vế trước, nêu khả năng của tiếng Việt trong việc “diễn tả tình cảm, tư tưởng và cho yêu cầu của đời sống văn hoá nước nhà qua các thời kì lịch sử”.

Câu 3: Trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2 Để chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt, tác giả đã đưa ra những chứng cớ gì và sắp xếp các chứng cứ đó như thế nào?Bài làm:Để chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt, tác giả đã trình diễn hai chứng cứ về ý kiến của người nước ngoài về tiếng Việt và ý kiến của bản thân trực tiếp phân tích, mô tả trên nhiều phương diện. Cụ thể như sau: Phương thức gián tiếp là trình diễn các ý kiến về tiếng Việt của người nước ngoài. Tác giả đã đưa ra những chứng cứ rất toàn diện, từ người ko biết tiếng Việt cho tới người biết tiếng Việt. Người ko biết tiếng Việt thì chỉ cần căn cứ vào âm thanh cũng trông thấy rằng, “tiếng Việt là một thứ tiếng giàu chất nhạc”. Người biết tiếng Việt có thể đưa ra những nhận định cụ thể. Phương thức này tuy ko thể phân phối những nhận định nói chung và đầy đủ nhưng có ưu điểm là rất khách quan.

Để bổ sung cho chứng cứ trên, tác giả trực tiếp phân tích, mô tả các yếu tố tiếng nói của tiếng Việt trên các phương diện cơ bản, từ ngữ âm, ngữ pháp tới từ vựng. Về ngữ âm: tiếng Việt có hệ thống nguyên âm, phụ âm phong phú và rất giàu thanh điệu (sáu thanh). Về ngữ pháp: tiếng Việt rất uyển chuyển, nhịp nhàng. Về từ vựng: tiếng Việt gợi hình, giàu nhạc điệu. Tiếng Việt có khả năng dồi dào trong việc cấu tạo từ ngữ và hình thức diễn tả. Tiếng Việt có sự tăng trưởng qua các thời kì lịch sử về cả hai mặt từ vựng và ngữ pháp. Cấu tạo và khả năng thích ứng với sự tăng trưởng là một biểu lộ về sức sống mạnh mẽ của tiếng Việt.

Qua hệ thống luận cứ và những dẫn chứng toàn diện về mọi mặt tương tự, tác giả sắp xếp từ những chứng cớ gián tiếp tới trực tiếp, từ người ngoại quốc tới người trong cuộc, làm nổi trội cái đẹp và cái hay của tiếng Việt. Cái đẹp của tiếng Việt trình bày ở sự hài hoà về âm hưởng, thanh điệu, còn cái hay lại trình bày trong sự tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu, có đầy đủ khả năng diễn tả những tư tưởng, tình cảm của con người và các yêu cầu tăng trưởng của đời sống văn hoá ngày một phức tạp về mọi mặt kinh tế, chính trị, khoa học, kĩ thuật, văn nghệ,…Ví dụ: Sự liên kết giữa âm thanh, nhịp độ và ý nghĩa đã tạo cho các câu thơ Việt một khả năng biểu đạt vô cùng phong phú và thâm thúy:Con lại về quê mẹ nuôi xưaMột buổi trưa nắng dài bãi cátGió lộng xôn xao, sóng biển đu đưaMát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát.(Tố Hữu, Mẹ Tơm) Đoạn thơ trên rất giàu hình ảnh và nhạc điệu. Buổi trưa nắng dài bãi cát, có gió lộng xôn xao, có sóng biển đu đưa, và lòng người cũng xôn xao, đu đưa cùng với sóng, với gió. Bởi vậy nên sự chuyển đổi nghĩa trong câu thơ cuối (lòng ta mát rượi, ngân nga tiếng hát) trở thành hết sức tự nhiên, làm cho độc giả cũng cảm thấy rộn rực, bâng khuâng, dễ dàng đồng cảm, sẻ chia nỗi niềm tâm trạng với tác giả.

Câu 4: Trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2Sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt được trình bày ở những phương diện nào?Bài làm:Tiếng Việt có hệ thống nguyên âm phụ âm phong phú, giàu thanh điệu (6 thanh).Uyển chuyển, hợp lý, nhịp nhàng về mặt cú pháp.Từ vựng dồi dào trị giá thơ, nhạc, hoạ.Có khả năng dồi dào về cấu tạo từ ngữ và hình thức diễn tả.Có sự tăng trưởng qua các thời kì lịch sử về cả hai mặt từ vựng và ngữ pháp. Có khả năng thích ứng với sự tăng trưởng liên tục của thời đại và cuộc sống.

Câu 5: Trang 37 sgk ngữ văn 7 tập 2Điểm nổi trội trong nghệ thuật nghị luận ở bài văn này là gì ?Bài làm:Về nghệ thuật nghị luận, bài viết này có nhiều ưu điểm nổi trội:Tác giả đã liên kết hài hoà giữa giảng giải, chứng minh với bình luận.Tác giả đã sử dụng một hệ thống lập luận chặt chẽ: nêu nhận định nói chung, giảng giải bằng nhiều phương thức linh hoạt, tiếp đó dùng các dẫn chứng để chứng minh. Các dẫn chứng được dẫn ra khá bao quát, toàn diện.Để cho bài viết thêm ngắn gọn, súc tích, tác giả đã nhiều lần sử dụng giải pháp mở rộng thành phần câu.Ví dụ: “Họ ko hiểu tiếng ta, và đó là một ấn tượng, ấn tượng của người “nghe” và chỉ nghe thôi”.Hoặc: “Một giáo sĩ nước ngoài (chúng ta biết rằng nhiều nhà tuyên giáo Thiên Chúa nước ngoài cũng là những người rất thạo tiếng Việt), đã có thể nói…”. Cách mở rộng câu tương tự giúp tác giả ko phải viết nhiều câu, đồng thời lại làm cho các ý gắn kết với nhau chặt chẽ và mạch lạc hơn.Luyện tậpBài tập 1: trang 37 sgk Ngữ Văn 7 tập haiSưu tầm, ghi lại những ý kiến nói về sự giàu đẹp, phong phú của tiếng Việt và nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của tiếng ViệtBài làm:Những ý kiến nói về sự giàu đẹp, phong phú của tiếng Việt và nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là:Phạm Văn Đồng: “Tiếng Việt của chúng ta rất giàu. Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp. Giàu bởi kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân ta lâu đời và phong phú. Đẹp bởi tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp. Hai nguồn của cái giàu, cái đẹp đó là ở chỗ tiếng Việt là tiếng nói của nhân dân, đầy tình cảm, màu sắc và âm điệu, hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đầy ý nghĩa; đồng thời nó là tiếng nói của văn học nhưng những thi sĩ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… và những nhà văn, thi sĩ ngày nay ở miền Bắc và miền Nam đã nâng lên tới trình độ rất cao về nghệ thuật.”Bác Hồ: “Tiếng nói là một thứ của nả vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ quát ngày càng rộng khắp.”

Bài tập 2: trang 37 sgk Ngữ Văn 7 tập haiTìm năm dẫn chứng trình bày sự giàu đẹp của tiếng Việt về ngữ âm và từ vựng trong các bài văn, thơ đã học hoặ cđọc thêm ở các lớp 6,7Bài làm: Năm dẫn chứng trình bày sự giàu đẹp của tiếng Việt về ngữ âm và từ vựng trong các bài văn, thơ đã học hoặc đọc thêm ở các lớp 6,7:Muôn nghìn cây mía
Múa gươm
Kiến
Hành quân
Đầy đường
Lá khô
Gió cuốn
Bụi bay
Cuồn cuộn
Cỏ gà rung tai
Nghe
Bụi tre
Tần ngần
Gỡ tóc
Hàng bưởi
Đu đưa
Bế lũ con
Đầu tròn
Trọc lốc (Mưa – Trần Đăng Khoa)Cháu đấu tranh hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ(Tiếng gà trưa – Xuân Quỳnh)Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Thưa thớt bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước, đau lòng con cuốc cuốc,
Thương nhà, mỏi mồm cái da da. (Qua đèo Ngang – Bà huyện Thanh Quan)Cùng trông lại nhưng cùng chẳng thấy
Thđó xanh xanh những mấy nghìn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lóng chàng ý thiếp người nào sầu hơn người nào?(Sau phút chia li – Bản dịch Đoàn Thị Điểm)Thân em thời trắng phận em tròn
Bảy nổi ba chìm mấy nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Nhưng em vẫn giữ tấm lòng son(Bánh trôi nước – Hồ Xuân Hương)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

#Top #Bài #soạn #Sự #giàu #đẹp #của #tiếng #Việt #của #Đặng #Thai #Mai #lớp #hay #nhất


  • Tổng hợp: Thư Viện Hỏi Đáp
  • Nguồn: https://toplist.vn/top-list/bai-soan-su-giau-dep-cua-tieng-viet-cua-dang-thai-mai-lop-7-hay-nhat-45715.htm
Back to top button