Tài Liệu

Top 6 bài phân tích vẻ đẹp của Vũ Nương siêu hay

Vũ Nương là một người phụ nữ thùy mị nết na, tư dung tốt đẹp trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của tác giải Nguyễn Dữ. Tuy nhiên chỉ vì những ghen tuông tuông vô lý của chồng đã khiến nàng phải chết oan. Trong bài viết này Hoatieu xin chia các bài văn mẫu phân tích phẩm chất tốt đẹp của Vũ Nương để người đọc hiểu rõ hơn về tư cách và vẻ đẹp của nàng Vũ Nương.

  • 7 mẫu nhập vai Trương Sinh kể lại Chuyện người con gái Nam Xương siêu hay

1. Dàn ý phân tích vẻ đẹp của Vũ Nương

Mở bài

Khái quát chung về nhân vật: Vũ Nương người con gái thùy mị nết na, tư dung tốt đẹp, người vợ hiền con thảo nhưng bị hàm oan phải tự tử để bảo vệ danh tiết.

Thân bài

Khái quát chung hoàn cảnh sáng tác tác phẩm

Phân tích vẻ đẹp phẩm chất nhân vật Vũ Nương

Hoàn cảnh sống của Vũ Nương

Vũ Nương là người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp

Người con gái thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp.

Người vợ một mực thủy chung với chồng, thấu hiểu nỗi khổ và nguy hiểm nhưng chồng phải đương đầu nơi chiến tuyến, kì vọng chồng.

Người con dâu hiếu thảo: chăm sóc mẹ chồng như cha mẹ ruột, lo ma chay chu đáo lúc mẹ chồng mất.

Người mẹ thương con rất đỗi: bù đắp thiếu thốn ý thức của con bằng cách chỉ vào bóng mình trên tường giả làm cha đứa nhỏ.

Người phụ nữ trọng phẩm chất tình nghĩa.

Số phận của nàng xấu số, hẩm hiu

=> Cái chết tô điểm thêm tính chất thảm kịch của thân phận Vũ Nương.

3. Kết bài

Chuyện người con gái Nam Xương khắc họa được tư cách cao đẹp và số phận bi thương của người phụ nữ tài sắc vẹn toàn.

2. Phân tích vẻ đẹp hình tượng nhân vật Vũ Nương

Vũ Nương là người phụ nữ mang nhiều phẩm chất tốt đẹp, là người phụ nữ bình dân xuất thân từ gia đình nghèo nhưng nang vừa có nhan sắc, vừa có tiết hạnh. Tính đã thùy mị nết na lại thêm tư duy tốt đẹp.

Vẻ đẹp của Vũ Nương mang vẻ đẹp của một người phụ nữ- của chiếc bánh trôi trong thơ của Hồ Xuân Hương ” vừa trắng lại vừa tròn”. vì vậy Trương Sinh con nhà hào phú đã xin với mẹ trăm lạng vàng cưới nàng về làm vợ, cuộc hôn nhân ko đồng đẳng, đã vậy Trương Sinh lại có tính đa nghi, hay ghen tuông. Vậy nhưng trong đạo vợ chồng nàng tỏ ra là một phụ nữ thông minh, phúc hậu, biết chồng có tính đa nghi hay ghen tuông nàng đã ” luôn giữ gìn mực thước… thất hòa”
chứng tỏ nàng rất khôn khéo trọng việc vun vén hạnh phúc gia đình.

Sống trong thời tao loạn nên cuộc sum vậy chưa được bao lâu thì Trương Sinh tòng quân đi lính nơi biên cửa ải,. Buổi tiễn chồng ra trận nàng rót chén rượu đầy chúc chồng bình yên “chàng đi chuyến này thiếp chẳng mong…thế là đủ rồi”.

Ước mong của nàng thật giản dị chỉ vì nàng coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi công danh phù phiếm ở đời. Những năm xa cách Vũ Nương thương nhớ chồng khôn xiết kể: “Mỗi lúc bướm lượn đầy vườn may che kín núi tì nỗi buồn chân trời góc bể lại ko thể nào ngăn được”

Tâm trạng thương nhớ đó của Vũ Nương cũng là tâm trạng chung của nhiều người chinh phụ trong thời tao loạn ngày xưa.

“Nhớ chàng đằng đẳng đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”
(Chinh phụ ngâm khúc- Đoàn Thị Điểm)

Thể hiện tâm trạng đó Nguyễn Dữ vừa thông cảm với nỗi đau xa cách trồng của Vũ Nương vừa truyền tụng tấm lòng thủy chung của nàng.

Không chỉ là một người vợ thủy chung, Vũ Nương còn là một người mẹ hiền, người con dâu hiếu thảo, chàng ra trận vừa tròn tuần thì nàng sinh con nuôidạy con lớn khôn. Để bù đắp thiếu vắng cha của con nàng chỉ chiếc bóng của mình trên tường và nói là cha Đản, còn với mẹ chồng già yếu nàng chăm sóc mẹ rất chu đáo, thuốc thang phụng dưỡng như cha mẹ đẻ của mình. Nàng đã làm chọn chữ “công” với nhà chồng. Đây là điều rất đáng chân trọng của Vũ
Nương bởi thời xưa quan hệ mẹ chồng nàng dâu dường như chưa bao giờ êm đẹp và chứa đầy những thành kiến khe khắt.

Tấm lòng của nàng đã được người mẹ chồng ghi nhận, điều này trình bày qua những lời chăn chối của bà trước lúc nhắm mắt xuôi tay “Sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức giống dòng tối tươi, xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Vũ nương chính là người phụ nữ lý tưởng trong xã hội ngày xưa: Công, dung, ngôn, hạnh.

Là người phụ nữ có bao phẩm chất tốt đẹp đáng lẽ nàng phải được lợi cuộc sống hạnh phúc ít ra cũng như nàng mong ước đó là thú vui nghi gia, nghi thất- vợ chồng con cái sum họp bên nhau. Thế nhưng cuộc sống của Vũ Nương cũng như cuộc đời của người phụ nữ xưa là những trang buồn đầy nước mắt. Xấu số của nàng tính từ lúc lúc giặc tan Trương Sinh trở về, chuyện cái bóng của con thơ đã là Trương Sinh ngờ vực, rồi kết tội Vũ Nương.

Chàng đinh ninh là vợ hư, nàng hết lời phân trần để bộc bạch lòng thủy chung, nỗ lực hàn gắn hạnh phúc gia đình có nguy cơ tan vỡ những tất cả đều vô ích. Vốn có tính hay ghen tuông lại vũ phu ít học. Trương sinh đã đối xử với nàng hết sức tàn nhẫn “nhiếc mắng, đánh đuổi nàng đi”, bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ và những lời khuyên can của láng giềng. Thất vọng tới tột cùng Vũ Nương đành mượn dòng nước quê hương để giải tỏ lỗi lòng trong trắng của mình. Nàng “tắm gọi chay sạch ra bến sông Hoàng Giang ngửa cổ lên trời là than rằng” kẻ bạc phận này duyên hẩm hiu… phỉ nhở”. Nói rồi nàng nhảy xuống sông tự vẫn. Vũ Nương bị người thân nhất đẩy xuống bên bờ vực thẳm dẫn tới thảm kịch gia đình. Với tấm lòng mến thương con người Nguyễn Dữ ko để cho sự trong sáng cao đẹp của Vũ Nương phải chịu oan khúc nên phần cuối chuyện đầy ắp những cụ thể hoang đường kì ảo. Sau câu chuyện của Phan Lang, Trương Sinh lập đàn tẩy oan cho vợ. Nàng trở về trong thế rực rõ uy nghi nhưng chỉ nhấp nhoáng trong giây lát rồi mất tích mãi mãi. Vũ Nương mãi mất đi quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền làm vợ, làm mẹ. Bi kịch của Vũ Nương cũng chính là thảm kịch của người phụ nữ Xã hội xưa. Bi kịch đó ko chỉ ngừng ở thế kỉ XVI, XVII, XVIII nhưng tới đầu thế kỷ XIX Nguyễn Du từng viết trong truyện Kiều.

“Đớn đau thay phận phụ nữ
Lời rằng bạc phận cũng là lời chung”

Với niềm xót thương thâm thúy Nguyễn Dữ lên ái những thế lực gian ác giày đạp lên những khát vọng chính đáng của con người – của phụ nữ. Ông tố cao xã hội phong kiến với những hư tục phi lý, trọng nam khinh nữ, đạo tàm tòng dây bao bất công và hiện thân của nó là nhân vật Trương Sinh, người chồng ghen tuông tuông mù quáng, vũ phu song sống với hủ tục là thế lực đồng tiền nong án nên Trương Sinh con nhà hào phú một lúc bỏ ra tăm lạng vàng để cưới Vũ Nương.

Ngoài ra ông còn tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã làm phá vỡ hạnh phúc gia đình của con người.

Như vậy bằng cách xây dựng truyện hết sức lạ mắt là sự liên kết hài hòa giữa yếu tố tự sự, trữ tình và yếu tố thực ảo. chuyện “Người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ mang tới cho chúng ta bao ấn tượng tốt đẹp. Truyện truyền tụng Vũ Nương có đầy đủ phẩm chất tốt đẹp mang tính truyền thống nhưng cuộc đời nàng lại là những trang buồn đầy nước mắt. Vẻ đẹp số phận
của nàng cũng là vẻ đẹp số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến cũ. Ngày nay chúng ta được sống trong toàn cầu công bình dân chủ, văn minh người phụ nữ là một nửa của toàn cầu họ được lợi những quyền lợi nhưng nam giới được lợi. Vậy chúng ta hãy phát huy những vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ xưa và thương cảm trước số phận của họ.

3. Vẻ đẹp những phẩm chất tốt đẹp của Vũ Nương

“Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương
Miếu người nào như miếu vợ chàng Trương

Ngàn năm trôi qua, làn khói viếng “miếu vợ chàng Trương” vẫn muôn thuở lan tỏa, vương vấn, như tiếc như thương cho số phận đầy thảm kịch của Vũ Nương. Bằng ngòi bút đầy trân trọng trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ đã tạc vào lịch sử văn học Việt Nam hình ảnh một người phụ nữ thời phong kiến, một Vũ Nương, đại diện cho cái đẹp hoàn mỹ. Nhưng đáng tiếc thay, cuộc đời nàng lại chất chứa những trang buồn đầy nước mắt.

Tên nàng là “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương”, đã đẹp người lại đẹp nết. Trương Sinh, chồng nàng, là một người thất học lại thêm tính đa nghi. Khi binh đao tao loạn, Trương phải ra trận. Một tuần sau, nàng sinh đàn ông đầu lòng và một mình chăm sóc mẹ chồng, lo tang ma lúc mẹ chồng mất. Giặc tan, chàng Trương về, nghe lời con trẻ nhưng nghi ngờ lòng thủy chung của vợ. Vũ Nương ko giải oan được nên đành trẫm mình, nhưng nàng được Linh Phi ở động Rùa cứu giúp. Sau đó, nàng gặp Phan Lang, người láng giềng đã cứu Linh Phi, nhờ Phan Lang gửi hộ lời với chàng Trương. Trương Sinh hối cải, lập đàn tẩy oan theo lời Vũ Nương. Nàng hiện lên gặp chồng con rồi lại trở lại động Rùa vì hai người đã “âm dương đôi đường”. Nhưng hình ảnh Vũ Nương ko ngừng lại ở đó nhưng còn mãi vương vấn trong lòng người đọc bởi nét đẹp hoàn mỹ cũng như số phận oan khúc và cái chết đầy bi thương của nàng.

Vũ Nương chính là đại diện cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam dưới cơ chế phong kiến. Không như Nguyễn Du mô tả thật tinh tế nét đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” của Thúy Kiều, Nguyễn Dữ chỉ điểm qua nhẹ nét đẹp của Vũ Nương: “tư dung tốt đẹp”. Nhưng chỉ bằng một cụ thể nhỏ đó, tác giả đã phần nào khắc họa được hình ảnh một cô gái có nhan sắc xinh đẹp. Cũng bởi “mến vì dung hạnh” nên chàng Trương đã lấy nàng làm vợ. Nhưng chữ “dung” đó, vẻ đẹp hình thức đó, không thể nào tỏa sáng nghìn đời như vẻ đẹp tâm hồn nàng. Vũ Nương “vốn con kẻ khó”, song rất mực tuân theo “tam tòng tứ đức”, giữ trọn lề lối gia phong và phẩm hạnh của chính mình. Thế nên, nàng rất “thùy mị, nết na”. Trong gia đình chồng, nàng luôn “giữ gìn mực thước, ko để lúc nào vợ chồng phải tới thất hòa”. Thế là, “hạnh”, một trong những tiêu chuẩn thẩm định con người, nàng đã vẹn tròn. Lễ nghĩa, nàng cũng thông hiểu, am tường. Tuy chẳng phải tiểu thư khuê các, con nhà quyền quý nhưng lời nàng nói ra dịu dàng như vàng như ngọc. Ngày tiễn chồng ra trận, nàng đã dặn rằng: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”. Từng lời, từng chữ nàng thốt ra thấm đẫm tình nghĩa vợ chồng thủy chung, son sắt, khiến “mọi người đều ứa hai hàng lệ”. Phận làm vợ, người nào chẳng mong phu quân mình được phong chức tước, áo gấm về làng. Còn nàng thì ko. Nàng chỉ ước ao giản dị rằng chàng Trương trở về được bình yên để có thể sum họp, đoàn viên gia đình, hạnh phúc trạch êm như ngày nào. Nhưng mong ước của nàng đã ko thực hiện được. Bị chồng một mực nghi oan, Vũ Nương tìm mọi lời lẽ để chứng minh sự trong sạch của mình. Nàng vẫn đoan trang, đúng mực, chỉ nhẹ nhõm giảng giải: “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Xa cách ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng. Ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Xin chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”. Lời nói của nàng luôn từ tốn, nhẹ nhõm, ko quá hoa mỹ nhưng chất chứa tình nghĩa. Chỉ qua những lời thoại, từ “ngôn” của Vũ Nương đã để lại một ấn tượng khó phai trong lòng người đọc bởi vẻ từ tốn, tế nhị của nàng. Và cũng từ những câu nói đó, chúng ta cảm thu được sự hy sinh vô bờ của nàng vì chồng con, gia đình. Khi chồng ra trận, cả nước nhà nhà chồng trĩu nặng trên đôi vai gầy guộc, mỏng manh của nàng. Nàng phải sinh con một mình giữa nỗi độc thân lạnh lẽo, thiếu sự vỗ về, xoa dịu của người chồng. Thật là một thử thách quá khó khăn với một người phụ nữ chân yếu tay mềm. Nhưng nàng vẫn vượt qua tất cả, một mình vò võ nuôi con lớn khôn, đợi chồng về. Không những thế, nàng còn hết lòng chăm lo cho mẹ chồng ốm nặng: “Nàng hết sức thuốc thang, lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên nhủ”. Thời xưa, quan hệ mẹ chồng – nàng dâu dường như chưa bao giờ êm đẹp và chứa đầy những thành kiến khe khắt.

“Mẹ anh nghiệt lắm anh ơi

Biết rằng có được ở đời với nhau

Hay là vào trước ra sau

Cho cực lòng thiếp, cho đau lòng chàng”.

Nhưng nàng đã mến thương mẹ chồng như chính cha mẹ ruột của mình. Mọi việc trong nhà đều được nàng chăm lo chu tất. Và lời trăn trối cuối cùng của mẹ chồng như một lời nhận xét, thẩm định, một phần thưởng xứng đáng với những công lao và sự hy sinh cao cả của nàng vì gia đình nhà chồng: “Xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Tác giả đã một lần nữa nhắc lại: “Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, tính liệu như với cha mẹ đẻ mình”, như tô đậm tình mến thương của nàng đối với mẹ chồng. Vũ Nương là một nàng dâu đảm đang, thảo hiền trong mắt tất cả mọi người. Vậy là cả “công – dung – ngôn – hạnh” nàng đều vẹn toàn. Nàng chính là đỉnh cao của sự hoàn mỹ về cả vẻ đẹp hình thức lẫn tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam xưa dưới cơ chế phong kiến. Song, số phận chẳng phải mỉm cười với nàng.

Cuộc đời Vũ Nương tiêu biểu cho số phận oan trái của người phụ nữ Việt Nam dưới cơ chế phong kiến. Nàng gặp bao xấu số trên đường đời. Chiến tranh tàn khốc đã khiến bao gia đình li tán. Trước cảnh non sông binh đao tao loạn, Trương Sinh phải đi lính, phó thác cả nước nhà nhà chồng trên đôi vai nhỏ nhỏ của người thiếu phụ.Tất cả mọi việc trong nhà đều trông cậy vào nàng. “Khi xa chồng vừa đầy tuần thì sinh ra một đứa đàn ông, đặt tên là Đản”. Thiếu vắng sự quan tâm, săn sóc của người chồng, song nàng vẫn nuôi nấng, dạy dỗ con thơ lớn khôn, trưởng thành. Vừa một mình chăm sóc, thuốc thang mẹ chồng, Vũ Nương vừa sinh đàn ông, lại thầm lặng, tảo tần nuôi con và cũng một mình lo ma chay, chôn cất mẹ chồng chu đáo. Từng ngày từng ngày trôi, bấy giờ, trên đôi vai nhỏ nhỏ của nàng khó khăn lại chồng chất khó khăn. Rồi chiến tranh cũng qua, cứ ngỡ Vũ Nương lại được sum họp gia đình, đoàn viên cùng chàng Trương, được sống trong hạnh phúc lứa đôi nhưng nàng hằng ước ao. Nàng đâu biết rằng thảm kịch cuộc đời nàng sắp khởi đầu. Những ngày xa chồng, nàng đã lặng thầm nuôi con, và nàng xót xa biết bao lúc nhìn cảnh con thơ thiếu vắng sự chăm sóc, mến thương của người cha.Thế là nàng đã chỉ bóng mình trên tường nhưng bảo với con rằng đó chính là cha Đản. Hành động đó chẳng phải vì nàng quá thương nhớ chồng nhưng xuất phát từ tấm lòng mến thương con vô bờ của một người mẹ. Nhưng nàng sẽ chẳng bao giờ ngờ được rằng nàng chết chính bởi cái bóng của chính mình. Ngày Trương Sinh về, nghe lời con thơ dại nhưng hàm oan vợ: “Trước đây có người đàn ông đêm nào cũng tới. Mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”. Trương Sinh vốn là tên thất học, lại thêm “tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức”. Lời nói thơ ngây của nhỏ Đản chứa đầy những cụ thể đáng ngờ, như đổ thêm dầu vào lửa. Tính đa nghi của Trương Sinh đã dâng lên tới cao trào và một mực “đinh ninh là vợ hư”. Chàng ko còn đủ tĩnh tâm để suy đoán, phân tích, bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ, ko tin cả những nhân chứng bênh vực cho nàng, cũng nhất quyết ko nói ra nguyên nhân để nàng có dịp giải oan. Và Trương Sinh thoáng chốc hóa một kẻ vũ phu, thô bạo, “nhiếc mắng nàng và đánh đuổi đi”. Vượt qua được mọi gian lao, vất vả trong chiến tranh để vẹn tròn phận dâu thảo hiền nhưng Vũ Nương ko thể vượt qua nổi bức tường của cơ chế nam quyền độc đoán, bất công, tàn bạo. Lời nói của nàng đầy thương tâm: “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu”. Ngay từ đầu, cuộc hôn nhân giữa nàng và chàng Trương đã có phần ko đồng đẳng và mang tính chất một cuộc trao đổi, sắm bán: Trương Sinh “xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về”. Điều đó khiến chúng ta động lòng nhớ tới tình cảnh một Thúy Kiều lúc phải bán mình chuộc cha:

“Cò kè bớt một thêm hai

Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm”.

Sự cách bức về địa vị xã hội như thế đã tạo cho Trương Sinh một cái thế kế bên những uy quyền vốn có của người chồng, người đàn ông trong gia đình gia trưởng phong kiến. Chính cái gia đình “chồng chúa vợ tôi”, “phu xướng phụ tùy” đó đã khiến nàng bị khinh rẻ, đối xử tệ bạc. Một người vợ vốn tiết hạnh, ngoan hiền, vâng theo cả “tam tòng tứ đức” lại phải mang tiếng xấu “hư thân mất nết”. Mọi lời nhiếc mắng của Trương Sinh như giày đạp lên phẩm giá cao đẹp nhưng nàng đã giữ giàng cả một đời. Khi xa chồng, Vũ Nương là người vợ thủy chung, yêu chồng tha thiết, nỗi buồn nhớ cứ dài theo những “bướm lượn đầy vườn”, “mây che kín núi”. Thế nhưng lúc vừa mới sum họp hạnh phúc, nàng lại bị gán cho tội danh: “lừa chồng dối con”. Thật đớn đau, thật tủi nhục! Bi kịch của cuộc đời Vũ Nương chính từ lễ giáo bất công và cơ chế nam quyền. Người đàn ông với những quyền hành về số phận, cuộc đời người phụ nữ đã đẩy Vũ Nương vào đường cùng ko lối thoát. Cái chết oan khúc, xót xa của Vũ Nương, người nào có thể ngờ người gây ra thảm kịch đó chính là chồng và con nàng, những người thân nhưng nàng rất đỗi mến thương, chăm sóc. Nàng, một người con gái luôn khát khao hạnh phúc dù chỉ nhỏ nhoi, bình dị nhưng cho tới lúc trẫm mình xuống sông thì cuộc đời nàng đúng là một chuỗi dài những thảm kịch. Hạnh phúc đâu quá xa vời nhưng xã hội phong kiến đó ko cho nàng chạm tay tới tận hưởng “thú vui nghi gia nghi thất” một lần duy nhất trong đời. Nỗi oan của nàng thấu cả trời xanh. Ngày xưa, Quan Âm Thị Kính mắc oan giết mổ chồng bởi “tình ngay lý gian”. Nhưng nàng Thị Kính cũng còn hiểu ra nỗi oan khúc của mình từ đâu nhưng thành. Còn lúc đã chìm sâu dưới dòng nước, Vũ Nương vẫn ko hề biết rằng mình phải chết vì đâu. Bi kịch của Vũ Nương là một lời tố cáo xã hội phong kiến xem trọng quyền uy của kẻ giàu và của người đàn ông trong gia đình, đồng thời bộc bạch niềm cảm thương đối với số phận oan trái của người phụ nữ. Người phụ nữ tiết hạnh ko những ko được bênh vực, chở che nhưng lại còn bị đối xử một cách bất công, vô lý; chỉ vì lời nói thơ ngây của đứa trẻ mồm còn hôi sữa và vì sự hồ đồ, vũ phu của anh chồng ghen tuông tuông nhưng tới nỗi phải kết liễu cuộc đời mình. Phcửa ải chăng đằng sau nỗi oan của nàng còn bao nhiêu nỗi oan của những người phụ nữ khác trong cơ chế phong kiến bị rẻ rúng, suốt đời sống trong câm lặng.

Xót thương trước nỗi khổ cực vì bị giày đạp của những người phụ nữ, Nguyễn Dữ như muốn giải oan và bù đắp cho những đức tính tốt đẹp của nàng bằng một cuộc sống khác với trần giới. Nhưng ở chốn “làng mây cung nước”, Vũ Nương không thể nào nguôi nỗi nhớ về những oan ức, bĩ cực ở cõi tục. Sống giữa cõi tiên huyền ảo, đẹp diệu kỳ nhưng nàng dường như ko bao giờ dứt tình nghĩa gia đình, mãi khóc thương cảnh gia đình tiêu điều xơ xác. Nàng xin lập đàn tẩy oan, khát khao được trả lại danh dự của một người con gái tiết hạnh. Và cuối cùng, nỗi oan của nàng đã được giải. Từ chốn thủy cung, Vũ Nương “ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng giữa dòng, theo sau có tới năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ sắc màu, lúc ẩn, lúc hiện”. Nhưng xót xa thay, nàng “không thể trở về nhân gian được nữa”. Nỗi oan tình của nàng đã được giải oan, xả stress nhưng âm dương đôi đường cách trở, nàng chẳng bao giờ được làm vợ, làm mẹ chốn cõi tục. Nhỏ Đản mãi mãi là một đứa nhỏ mồ côi mẹ. Nếu nàng được trở về với cõi tục thì liệu xã hội phong kiến bất công ko có nơi dành cho cái đẹp này có dành cho nàng một cuộc sống ấm êm, bình yên, hay một lần nữa, nàng phải đớn đau, buồn khổ. Dù trở lại chốn tiên giới xinh đẹp, nhưng cuối cùng, ước mong cả đời của nàng, hạnh phúc “nghi gia nghi thất”, chỉ mãi là ước mơ hảo huyền.

Hình tượng nhân vật Vũ Nương là hiện thân của lòng vị tha và vẻ đẹp người phụ nữ. Song cuộc đời nàng gặp nỗi thảm kịch lớn. Đấy chính là tấn thảm kịch của người phụ nữ Việt Nam trong cơ chế phong kiến gian ác, cơ chế của sự lỗi thời và cả bóng đêm vĩnh cửu. Điều đó khiến chúng ta phải động lòng trước số phận của người phụ nữ.

“Đớn đau thay phận phụ nữ

Lời rằng bạc phận cũng là lời chung”

4. Phân tích vẻ đẹp và số phận của Vũ Nương

Vũ Nương là con nhà nghèo, một phụ nữ bình dân. Người đã được giới thiệu trong truyện “ tính tình đã thùy mị nết na lại thêm tư duy tốt đẹp. Còn chồng nàng, Trương Sinh, là một người đa nghi, con nhà giàu, ít học. Chính những tính nết này đã đẩy Vũ Nương vào thảm kịch.

Nguyễn Dữ đã tập trung khắc họa vẻ đẹp tiết hạnh của Vũ Nương trong các mối quan hệ với chông, với mẹ chồng và với nhỏ Đản – đứa con yêu quý của nàng. Để làm nổi trội nàng, nhà văn đã đặt nhân vật của mình vào các hoàn cảnh, tình huống đặc trưng. Nàng là một người vợ thủy chung, rất đỗi mến thương chồng. Khi mới lấy chồng, Vũ Nương cư xử đúng mực, nhường nhịn, giữ gìn mực thước, nên cho dù Trương Sinh có tính đa nghi, đối với vợ thường phòng nghừa quá mức nhưng gia đình vẫn luôn êm ấm thuận hòa. Khi tiễn chồng đi lính, nàng ko trông mong vinh hiển, chỉ cầu mong chồng được bình yên trở về: “ Chàng đi chuyến này … mang theo 2 chữ bình yên thế là đủ”. Nàng rất thông cảm với nỗi vất vả gian lao nhưng chông nàng sẽ phải chịu đựng nơi trận mạc. Nàng đã nói lên nỗi khắc khoải, nhớ nhung của mình – những lời nói ân tình thắm thiết này của nàng lúc tiễn chồng đã làm cho người đọc xúc động. Khi Trương Sinh đi trận mạc, xa chồng, Vũ Nương càng tỏ rõ là người vợ thủy chung, yêu chông rất đỗi. Mỗi lúc thấy bướm lượn đầu mùa – cảnh vui mùa xuân hay mây che hình núi – cảnh buồn mùa đông, nàng lại chạnh nỗi nhớ nhung da diết, thổn thức tâm tình. Tiết hạn đấy của Vũ Nương cũng được khẳng định lại trong câu nói với chồng: “ … xa cách 3 năm, giữ trọn một tiết, tô son điểm phẩn, từng đã nguôi lòng…”. Nàng còn là 1 người con dâu hiếu thảo với mẹ chồng. Trong lúc chồng đi vắng, nàng đã sinh con. Một mình vừa nuôi con nhỏ, vừa chăm lo săn sóc mẹ chồng. Khi mẹ chồng ốm, nàng đã hết lòng chăm sóc, lễ bái thần phật, lấy lời ngọt ngào khuyên đơn. Khi mẹ chồng mất, nàng lo ma chay, tế lễ chu đáo như với cha mẹ đẻ của mình. Lời trăn trối của mẹ chồng đã ghi nhận công lao của Vũ Nương với gia đình nhà chồng. Vũ Nương đã làm tròn trách nhiệm của một người mẹ rất mực mến thương con. Khi chồng đi lính, nàng đã sinh con một mình, dành hết tình mến thương cho nhỏ Đản. Nàng đã yêu con bằng cả phần người cha cộng lại. Nàng còn chỉ bóng của mình trên tường để dỗ con vì thương con thiếu vắng tình cha. Nàng là một người phụ nữ trọng phẩm chất và tình nghĩa. Khi bị chồng nghi oan, Vũ Nương đã cố phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình. Nàng nói lên thân phận mình, nói tới tình nghĩa vợ chồng và khẳng định tấm lòng thủy chung, trong trắng, cầu xin chồng đừng nghi oan. Nàng đã tìm mọi cách để cứu vãn, hàn gắn hạnh phúc gia đình đang nguy cơ tan vỡ. Vũ Nương đã chọn cái chết để tự giải oan cho mình, để bảo vệ phẩm chất của người phụ nữ. Tìm tới cái chết là tìm tới giải pháp tiêu cực nhưng đó là giải pháp duy nhất của Vũ Nương. Lời than của nàng là 1 lời thề nguyện: “Xin thần sông chứng giám…” Hành động trầm mình tự vẫn của nàng là hành động quyết liệt cuối cùng để bảo toàn danh dự. Đối với người phụ nữ xấu số đó, phẩm giá còn cao hơn cả sự sống. Vũ Nương còn là 1 người phụ nữ rất coi trọng tình nghĩa. Dù thương nhớ về quê hương song nàng quyết giữ lời hứa với Linh Phi
Vũ Nương quả là 1 người phụ nữ lí tưởng : xinh đẹp, nết na, đảm đang, hiếu thuận, thủy chung,… Một con người như thế đúng ra phải được lợi hạnh phúc trọn vẹn, vậy nhưng lại phải chết 1 cách oan uổng, đớn đau. Nàng phải chịu nỗi kỉ oan, bị chồng nghi oan là thất tiết, bị đối xử bất công, tàn nhẫn tới mức nàng phải tìm tới cái chết để giải tỏ tấm lòng mình. Nguyên nhân trực tiếp dẫn tới cái chết của Vũ Nương là từ chiếc bóng trên vách và lời nói của nhỏ Đản. Nhưng nguyên nhân sâu xa trước hết là từ người chồng đa nghi và thô bạo. Trương Sinh được giới thiệu từ đầu là 1 người “có tính đa nghi, đối với vợ thường phòng ngừa quá mức” và là con nhà hào phú nhưng ko có học. Đó chính là mầm mống của thảm kịch. Tiếp theo đó là sự xử xự hồ đồ, độc đoán, phũ phàng của Trương Sinh lúc ghen tuông tuông mù quáng. Trương Sinh đã phớt lờ tất cả các thời cơ để tránh được thảm kịch và nhiếc mắng, đuổi đánh Vũ Nương đi. Nguyên nhân tiếp theo là lễ giáo phong kiến khắc nghiệt, ko chấp nhận sự lầm lỡ của người phụ nữ, coi người phụ nữ ko giữ được tiết hạnh là mắc vào điều ô nhục nhất. Tất cả những cái đó đã bức tử Vũ Nương, khiến nàng phải chết. Vũ Nương chính là một nạn nhân của xã hội phong kiến
Cuộc sống của Vũ Nương dưới thủy cung kết thúc có hậu hay ko – phần này hoàn toàn là những tình tiết kì ảo, trình bày tính chất truyền kì của truyện. Vũ Nương được Linh Phi cứu và sống sung sướng, hạnh phúc dưới thủy cung, đặc trưng là cụ thể kết thúc tác phẩm : “ Vũ Nương ngồi trên 1 chiếc kiệu hoa, đứng ở giữa dòng, theo sau có tới 50 chiếc xe cờ, võng, lọng, rực rỡ dòng sông, lúc ẩn lúc hiện.” Sự hiện diện xinh tươi của Vũ Nương chứng tỏ nàng vô tội và ở toàn cầu đó, nàng đã được đối xử xứng đáng với phẩm giá của mình. Chi tiết cuối truyện góp phần làm hoàn chỉnh thêm tư cách của Vũ Nương : “ Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng ko bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp không thể trở về nhân gian được nữa…” Nó góp phần tạo nên kết thúc phần nào có hậu trình bày ước mơ của con người về sự bất tử, về cái đẹp, cái thiện, trình bày lòng khát khao 1 cuộc sống công bình, hạnh phúc cho những con người lương thiện, đặc trưng là phụ nữ. Tuy nhiên, nó ko làm giảm đi tính thảm kịch của câu chuyện. Vũ Nương và chồng con vẫn chia phôi âm dương đôi ngả. Vũ Nương chỉ hiển linh trong thoáng chốc rồi “ bóng người nhoang nhoáng, mờ nhạt dần và biến đi mất”. Hạnh phúc đã vĩnh viễn mất tích. Sương khói tẩy oan tan đi chỉ còn lại sự thực đắng cay : nỗi oan người phụ nữ ko đàng tràng nào giải được.

Sự hối lỗi của người chồng cũng ko hàn gắn được gia đình. Lời từ biệt của Vũ Nương như 1 lời tố cáo chốn nhân gian phong kiến ngày xưa đầy oan trái, khổ đau, ko chốn dung thân cho con người, đặc trưng là người phụ nữ.

5. Phân tích vẻ đẹp của nhân vật Vũ Nương

Nguyễn Dữ là học trò xuất sắc của Tuyết giang phu tử Nguyễn Bỉnh Khiêm sống giữa thế kỉ XVI lúc nhưng cơ chế phong kiến nhà Lê đang khởi đầu suy yếu. Nguyễn Dữ chỉ làm quan có một năm rồi về sống ẩn dật viết sách và sáng tác văn học. Chuyện người con gái Nam Xương được rút ra trong tập Truyền kì mạn lục, là một câu chuyện được nhà văn thông minh trở thành một tác phẩm văn học thực sự. Qua câu chuyện ta thấy nổi lên là nhân vật Vũ Nương với số phận và phẩm chất cao đẹp.Số phận của Vũ Nương là một tấn thảm kịch đầy thương tâm.

Vũ Nương được giới thiệu là người phụ nữ phong kiến mang vẻ đẹp truyền thống “công – dung – ngôn – hạnh”. Bằng sự đồng cảm thâm thúy và tấm lòng trân trọng nâng niu,Nguyễn Dữ đã dành hết tâm huyết của mình để truyền tụng Vũ Nương.Nhưng thật oái ăm, Vũ Nương được kết tinh bao nhiêu thứ đẹp thì để rồi trở thành trắng tay trong cuộc đời. Trong hoàn cảnh tao loạn chiến tranh phong kiến, Trương Sinh phải đầu quân đi lính, nàng vất vả một mình nuôi con nhỏ chăm sóc mẹ chồng già yếu ốm đau. Cái bóng trên tường nhưng nàng vô tình dỗ con chính là nguyên nhân của sự sụp đổ. Ngày sum họp cũng là ngày nàng vĩnh viễn rời xa tổ ấm. Đớn đau hơn nữa kẻ đẩy nàng vào chỗ chết ko người nào khác chính là chồng và con mình. Chỉ vì lời nói thơ ngây của con trẻ “Ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư” nhưng Trương Sinh nghi vợ mình ko thuỷ chồng.

Tâm lý ghen tuông tuông khiến Trương Sinh tới mù quáng, sự ích kỷ của kẻ vô học khiến Trương Sinh băm bổ phỉ bám và độc quyền ko cho vợ thanh minh. Quả thực sự ghen tuông tuông dẫn tới đa nghi đó của người đàn ông làm cho người vợ dù có tinh khôn tới mấy thì cũng khó lòng nhưng lường hết được. Lẽ ra cuộc sống hạnh phúc là tin tưởng là thông cảm nhưng một kẻ tầm thường như Trương Sinh thì chỉ cần một cái cớ rất nhỏ đó cũng có thể tưởng tượng ra sự việc vô cùng nghiêm trọng. Cứ thế nhưng dẫn tới tan tành cửa nhà. Tuy nhiên xét về khách quan, trong hoàn cảnh Trương Sinh trở về sau ba năm mẹ đã mất, chỗ dựa ý thức lớn nhất là vợ và con. Chàng cứ suy diễn để rồi tưởng tượng có người thứ ba xen vào trong gia đình mình. Chàng ko còn tỉnh táo để suy xét lời con nói ngay cả sự van xin của vợ cũng chẳng thèm xuôi tai. Nàng ko tự giải oan cho mình được nữa đành gieo mình xuống sông tự tử.

Nỗi oan của Vũ Nương sẽ còn đeo đẳng mãi nếu như ko có một đêm tình cờ “Cha Đản lại tới kia kìa” Người cha thứ hai vô tình đó chính là nguyên nhân sâu xa gây ra cái chết oan uổng của Vũ Nương. Thế là chỉ một trò đùa trong thương nhớ dẫn tới cái chết oan khiên của người vợ dung hạnh. Nàng chết sự lẻ loi độc thân và nỗi hối lỗi sẽ là hình phạt dày vò Trương Sinh suốt quãng đời còn lại. Cái chết của Vũ Nương cũng là đại diện cho số phận chung của người phụ nữ phong kiến. Một con người đẹp nết đẹp người, thuỷ chung son sắt thì bị nghi oan là thất tiết. Một con người hết lòng xây dựng cho hạnh phúc gia đình tới cuối cùng phải bất hạn lìa xa cuộc đời. Tác phẩm tố cáo sắt đá cái xã hội nam quyền độc đoán, cảnh chiến tranh phong kiến dẫn tới sự chia phôi.

Người đọc cũng được cảnh tỉnh về sự nhẹ dạ vô ý dẫn tới những hậu quả thương tâm.Dưới cơ chế phong kiến người phụ nữ bị coi rẻ, mất hết quyền tự chủ nhưng bằng tấm lòng nhân đạo cao cả Nguyễn Dữ đã dành những trang viết hết sức xúc động để truyền tụng phẩm chất của Vũ Nương. Mặc dù cuộc hôn nhân với Trương Sinh là hoàn toàn gượng gạo ép nhưng nàng luôn sống yên phận hết lòng, vun vén cho hạnh phúc nhà chồng. Biết chồng đa nghi và hay ghen tuông lúc nào nàng cũng sống “khuân phép” để vợ chồng khỏi “thất hoà”. Nàng thuỷ chung son sắt đợi chờ chồng trong những năm tháng chồng phải đi trận mạc: “Mỗi lúc bướm lượn đầy vườn mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời ko thể nào ngăn được”. Khi bị chồng nghi oan nàng nỗ lực dãi bày và níu kéo lúc hôn nhân có nguy cơ tan vỡ.Chuyện mẹ chồng nàng dâu trong xã hội phong kiến thường là chuyện đố kị nhất trong gia đình.

Nhưng với Vũ Nương nàng là người con dâu hiếu thảo: “Chăm sóc mẹ chồng như cha mẹ đẻ mình”, chữa chạy thuốc thang lúc mẹ chồng ốm làm cho mẹ chồng phải nể trọng. Trước lúc chết bà cụ còn nguyện cầu “xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Khi mẹ chồng mất một mình nàng lo ma chay rất chu đáo, được mọi người kính nể. Vũ Nương còn là người mẹ tận tuỵ đảm đang hết lòng mến thương con. Một mình một bóng nuôi con Vũ Nương vừa là người mẹ dịu hiền vừa làm thay trách nhiệm người cha để làm chỗ dựa ý thức cho con trẻ.Về với thuỷ phủ, một toàn cầu lung linh huyền ảo, Vũ Nương được hồi sinh đúng như lời nguyện trước lúc chết. Nàng vẫn mong muốn trở về với quê hương gia đình. Nhưng ước mơ vẫn chỉ là ước mơ.

Tác giả tô vẽ bức tranh dưới thuỷ phủ nhằm hoàn thiện tư cách Vũ Nương: con người đó ngay cả lúc chết vẫn muốn được trở về với quê hương.Bằng tài năng thông minh và tấm lòng nhân đạo cao cả. Nguyễn Dữ đã xây dựng thành người lao động vật Vũ Nương tiêu biểu cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ là những con người có phẩm chất truyền thống tốt đẹp nhưng lại gặp nhiều nỗi oan trái đay nghiến cái xã hội nhưng ta nói tới là:

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Nhưng mà em vẫn giữ tấm lòng son
(Bánh trôi nước – Hồ Xuân Hương)

6. Cảm nhận vẻ đẹp của Vũ Nương

Vũ Nương quê ở Nam Xương, thùy mị nết na, xinh đẹp. Cuộc đời của Vũ Nương thật là ngắn ngủi, nhưng nàng đã làm tròn trách nhiệm của người phụ nữ. Biết giữ gìn mực thước, vì vậy cuộc sống gia đình trong ấm ngoài êm. Trương Sinh đi lính, nàng phải gánh bao vất vả phải sinh nở và nuôi con một mình chăm sóc mẹ già lúc ốm đau, lúc mẹ mất toan lo như cho mẹ mình. Nàng đã làm tròn trách nhiệm làm dâu. làm vợ, làm mẹ.

Vũ Nương cũng giống như bao nhiêu người chinh phụ khác, lúc nào nàng cũng ước mong người chồng trở về đoàn viên. Khát vọng hạnh phúc đó thật là tầm thường giản dị. Người chinh phụ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm luôn khát khao chồng đi lính sẽ được phong tước, phong hầu, để rồi một ngày kia “võng anh đi trước, võng nàng theo sau”. Còn Vũ Nương chẳng ham công danh, võng lọng chỉ xin ngày về mang theo hai chữ “bình yên”. Vũ Nương xem trọng hạnh phúc gia đình, xem đó là tất cả của cuộc đời mình.

Trương Sinh trở về, ước mong của Vũ Nương sắp trở thành hiện thực nhưng ko ngờ lại có một cuộc chia li vĩnh viễn.

Trương Sinh bế con, nó ko theo, chàng dỗ con. Không ngờ thằng nhỏ thơ ngây lại nói: Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Cha tôi chỉ nín thin thít… Trương Sinh gặng hỏi con, thì đã được nhỏ Đản nói rõ ràng: Cha nó ngày nào cũng tới, mẹ nó đi cha nó cũng đi theo, vốn tính cả ghen tuông, Trương Sinh cho rằng có người đàn ông thứ hai xen vào gia đình mình.

Nghi ngờ này sẽ được xả stress nếu Trương Sinh cho biết câu nói của con. Trương Sinh ko làm tương tự. Cái thói ghen tuông tuông thô lỗ ăn sâu vào tâm trí, làm cho Trương Sinh mất lí trí, thiếu tỉnh táo đã nhiếc mắng Vũ Nương thậm tệ rồi đánh đuổi nàng đi. Trương Sinh bất chấp những lời thanh minh, van xin tha của Vũ Nương, khiến nàng chỉ còn một tuyến đường lấy cái chết để thổ lộ lòng mình.

Từ đây ta nhận thấy nguyên nhân cái chết của Vũ Nương còn do: Chiến tranh li tán, vợ phải xa chồng tạo nên mối ngờ vực, xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ.

Cái chết của Vũ Nương đã chứng minh rằng: Hạnh phúc lứa đôi chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở của tình mến thương chân chính, có sự thông cảm và sẻ chia.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên phân mục Tài liệu của Thư Viện Hỏi Đáp VN.

.


Thông tin thêm

Top 6 bài phân tích vẻ đẹp của Vũ Nương siêu hay

[rule_3_plain]

Vũ Nương là một người phụ nữ thùy mị nết na, tư dung tốt đẹp trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của tác giải Nguyễn Dữ. Tuy nhiên chỉ vì những ghen tuông tuông vô lý của chồng đã khiến nàng phải chết oan. Trong bài viết này Hoatieu xin chia các bài văn mẫu phân tích phẩm chất tốt đẹp của Vũ Nương để người đọc hiểu rõ hơn về tư cách và vẻ đẹp của nàng Vũ Nương.

7 mẫu nhập vai Trương Sinh kể lại Chuyện người con gái Nam Xương siêu hay

1. Dàn ý phân tích vẻ đẹp của Vũ Nương
Mở bài
Khái quát chung về nhân vật: Vũ Nương người con gái thùy mị nết na, tư dung tốt đẹp, người vợ hiền con thảo nhưng bị hàm oan phải tự tử để bảo vệ danh tiết.
Thân bài
Khái quát chung hoàn cảnh sáng tác tác phẩm
Phân tích vẻ đẹp phẩm chất nhân vật Vũ Nương
Hoàn cảnh sống của Vũ Nương
Vũ Nương là người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp
Người con gái thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp.
Người vợ một mực thủy chung với chồng, thấu hiểu nỗi khổ và nguy hiểm nhưng chồng phải đương đầu nơi chiến tuyến, kì vọng chồng.
Người con dâu hiếu thảo: chăm sóc mẹ chồng như cha mẹ ruột, lo ma chay chu đáo lúc mẹ chồng mất.
Người mẹ thương con rất đỗi: bù đắp thiếu thốn ý thức của con bằng cách chỉ vào bóng mình trên tường giả làm cha đứa nhỏ.
Người phụ nữ trọng phẩm chất tình nghĩa.
Số phận của nàng xấu số, hẩm hiu
=> Cái chết tô điểm thêm tính chất thảm kịch của thân phận Vũ Nương.
3. Kết bài
Chuyện người con gái Nam Xương khắc họa được tư cách cao đẹp và số phận bi thương của người phụ nữ tài sắc vẹn toàn.
2. Phân tích vẻ đẹp hình tượng nhân vật Vũ Nương
Vũ Nương là người phụ nữ mang nhiều phẩm chất tốt đẹp, là người phụ nữ bình dân xuất thân từ gia đình nghèo nhưng nang vừa có nhan sắc, vừa có tiết hạnh. Tính đã thùy mị nết na lại thêm tư duy tốt đẹp.
Vẻ đẹp của Vũ Nương mang vẻ đẹp của một người phụ nữ- của chiếc bánh trôi trong thơ của Hồ Xuân Hương ” vừa trắng lại vừa tròn”. vì vậy Trương Sinh con nhà hào phú đã xin với mẹ trăm lạng vàng cưới nàng về làm vợ, cuộc hôn nhân ko đồng đẳng, đã vậy Trương Sinh lại có tính đa nghi, hay ghen tuông. Vậy nhưng trong đạo vợ chồng nàng tỏ ra là một phụ nữ thông minh, phúc hậu, biết chồng có tính đa nghi hay ghen tuông nàng đã ” luôn giữ gìn mực thước… thất hòa”chứng tỏ nàng rất khôn khéo trọng việc vun vén hạnh phúc gia đình.
Sống trong thời tao loạn nên cuộc sum vậy chưa được bao lâu thì Trương Sinh tòng quân đi lính nơi biên cửa ải,. Buổi tiễn chồng ra trận nàng rót chén rượu đầy chúc chồng bình yên “chàng đi chuyến này thiếp chẳng mong…thế là đủ rồi”.
Ước mong của nàng thật giản dị chỉ vì nàng coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi công danh phù phiếm ở đời. Những năm xa cách Vũ Nương thương nhớ chồng khôn xiết kể: “Mỗi lúc bướm lượn đầy vườn may che kín núi tì nỗi buồn chân trời góc bể lại ko thể nào ngăn được”
Tâm trạng thương nhớ đó của Vũ Nương cũng là tâm trạng chung của nhiều người chinh phụ trong thời tao loạn ngày xưa.
“Nhớ chàng đằng đẳng đường lên bằng trờiTrời thăm thẳm xa vời khôn thấuNỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”(Chinh phụ ngâm khúc- Đoàn Thị Điểm)
Thể hiện tâm trạng đó Nguyễn Dữ vừa thông cảm với nỗi đau xa cách trồng của Vũ Nương vừa truyền tụng tấm lòng thủy chung của nàng.
Không chỉ là một người vợ thủy chung, Vũ Nương còn là một người mẹ hiền, người con dâu hiếu thảo, chàng ra trận vừa tròn tuần thì nàng sinh con nuôidạy con lớn khôn. Để bù đắp thiếu vắng cha của con nàng chỉ chiếc bóng của mình trên tường và nói là cha Đản, còn với mẹ chồng già yếu nàng chăm sóc mẹ rất chu đáo, thuốc thang phụng dưỡng như cha mẹ đẻ của mình. Nàng đã làm chọn chữ “công” với nhà chồng. Đây là điều rất đáng chân trọng của VũNương bởi thời xưa quan hệ mẹ chồng nàng dâu dường như chưa bao giờ êm đẹp và chứa đầy những thành kiến khe khắt.
Tấm lòng của nàng đã được người mẹ chồng ghi nhận, điều này trình bày qua những lời chăn chối của bà trước lúc nhắm mắt xuôi tay “Sau này trời xét lòng lành ban cho phúc đức giống dòng tối tươi, xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Vũ nương chính là người phụ nữ lý tưởng trong xã hội ngày xưa: Công, dung, ngôn, hạnh.
Là người phụ nữ có bao phẩm chất tốt đẹp đáng lẽ nàng phải được lợi cuộc sống hạnh phúc ít ra cũng như nàng mong ước đó là thú vui nghi gia, nghi thất- vợ chồng con cái sum họp bên nhau. Thế nhưng cuộc sống của Vũ Nương cũng như cuộc đời của người phụ nữ xưa là những trang buồn đầy nước mắt. Xấu số của nàng tính từ lúc lúc giặc tan Trương Sinh trở về, chuyện cái bóng của con thơ đã là Trương Sinh ngờ vực, rồi kết tội Vũ Nương.
Chàng đinh ninh là vợ hư, nàng hết lời phân trần để bộc bạch lòng thủy chung, nỗ lực hàn gắn hạnh phúc gia đình có nguy cơ tan vỡ những tất cả đều vô ích. Vốn có tính hay ghen tuông lại vũ phu ít học. Trương sinh đã đối xử với nàng hết sức tàn nhẫn “nhiếc mắng, đánh đuổi nàng đi”, bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ và những lời khuyên can của láng giềng. Thất vọng tới tột cùng Vũ Nương đành mượn dòng nước quê hương để giải tỏ lỗi lòng trong trắng của mình. Nàng “tắm gọi chay sạch ra bến sông Hoàng Giang ngửa cổ lên trời là than rằng” kẻ bạc phận này duyên hẩm hiu… phỉ nhở”. Nói rồi nàng nhảy xuống sông tự vẫn. Vũ Nương bị người thân nhất đẩy xuống bên bờ vực thẳm dẫn tới thảm kịch gia đình. Với tấm lòng mến thương con người Nguyễn Dữ ko để cho sự trong sáng cao đẹp của Vũ Nương phải chịu oan khúc nên phần cuối chuyện đầy ắp những cụ thể hoang đường kì ảo. Sau câu chuyện của Phan Lang, Trương Sinh lập đàn tẩy oan cho vợ. Nàng trở về trong thế rực rõ uy nghi nhưng chỉ nhấp nhoáng trong giây lát rồi mất tích mãi mãi. Vũ Nương mãi mất đi quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền làm vợ, làm mẹ. Bi kịch của Vũ Nương cũng chính là thảm kịch của người phụ nữ Xã hội xưa. Bi kịch đó ko chỉ ngừng ở thế kỉ XVI, XVII, XVIII nhưng tới đầu thế kỷ XIX Nguyễn Du từng viết trong truyện Kiều.
“Đớn đau thay phận đàn bàLời rằng bạc phận cũng là lời chung”
Với niềm xót thương thâm thúy Nguyễn Dữ lên ái những thế lực gian ác giày đạp lên những khát vọng chính đáng của con người – của phụ nữ. Ông tố cao xã hội phong kiến với những hư tục phi lý, trọng nam khinh nữ, đạo tàm tòng dây bao bất công và hiện thân của nó là nhân vật Trương Sinh, người chồng ghen tuông tuông mù quáng, vũ phu song sống với hủ tục là thế lực đồng tiền nong án nên Trương Sinh con nhà hào phú một lúc bỏ ra tăm lạng vàng để cưới Vũ Nương.
Ngoài ra ông còn tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã làm phá vỡ hạnh phúc gia đình của con người.
Như vậy bằng cách xây dựng truyện hết sức lạ mắt là sự liên kết hài hòa giữa yếu tố tự sự, trữ tình và yếu tố thực ảo. chuyện “Người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ mang tới cho chúng ta bao ấn tượng tốt đẹp. Truyện truyền tụng Vũ Nương có đầy đủ phẩm chất tốt đẹp mang tính truyền thống nhưng cuộc đời nàng lại là những trang buồn đầy nước mắt. Vẻ đẹp số phậncủa nàng cũng là vẻ đẹp số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến cũ. Ngày nay chúng ta được sống trong toàn cầu công bình dân chủ, văn minh người phụ nữ là một nửa của toàn cầu họ được lợi những quyền lợi nhưng nam giới được lợi. Vậy chúng ta hãy phát huy những vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ xưa và thương cảm trước số phận của họ.
3. Vẻ đẹp những phẩm chất tốt đẹp của Vũ Nương
“Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hươngMiếu người nào như miếu vợ chàng Trương
Ngàn năm trôi qua, làn khói viếng “miếu vợ chàng Trương” vẫn muôn thuở lan tỏa, vương vấn, như tiếc như thương cho số phận đầy thảm kịch của Vũ Nương. Bằng ngòi bút đầy trân trọng trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ đã tạc vào lịch sử văn học Việt Nam hình ảnh một người phụ nữ thời phong kiến, một Vũ Nương, đại diện cho cái đẹp hoàn mỹ. Nhưng đáng tiếc thay, cuộc đời nàng lại chất chứa những trang buồn đầy nước mắt.
Tên nàng là “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương”, đã đẹp người lại đẹp nết. Trương Sinh, chồng nàng, là một người thất học lại thêm tính đa nghi. Khi binh đao tao loạn, Trương phải ra trận. Một tuần sau, nàng sinh đàn ông đầu lòng và một mình chăm sóc mẹ chồng, lo tang ma lúc mẹ chồng mất. Giặc tan, chàng Trương về, nghe lời con trẻ nhưng nghi ngờ lòng thủy chung của vợ. Vũ Nương ko giải oan được nên đành trẫm mình, nhưng nàng được Linh Phi ở động Rùa cứu giúp. Sau đó, nàng gặp Phan Lang, người láng giềng đã cứu Linh Phi, nhờ Phan Lang gửi hộ lời với chàng Trương. Trương Sinh hối cải, lập đàn tẩy oan theo lời Vũ Nương. Nàng hiện lên gặp chồng con rồi lại trở lại động Rùa vì hai người đã “âm dương đôi đường”. Nhưng hình ảnh Vũ Nương ko ngừng lại ở đó nhưng còn mãi vương vấn trong lòng người đọc bởi nét đẹp hoàn mỹ cũng như số phận oan khúc và cái chết đầy bi thương của nàng.
Vũ Nương chính là đại diện cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam dưới cơ chế phong kiến. Không như Nguyễn Du mô tả thật tinh tế nét đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” của Thúy Kiều, Nguyễn Dữ chỉ điểm qua nhẹ nét đẹp của Vũ Nương: “tư dung tốt đẹp”. Nhưng chỉ bằng một cụ thể nhỏ đó, tác giả đã phần nào khắc họa được hình ảnh một cô gái có nhan sắc xinh đẹp. Cũng bởi “mến vì dung hạnh” nên chàng Trương đã lấy nàng làm vợ. Nhưng chữ “dung” đó, vẻ đẹp hình thức đó, không thể nào tỏa sáng nghìn đời như vẻ đẹp tâm hồn nàng. Vũ Nương “vốn con kẻ khó”, song rất mực tuân theo “tam tòng tứ đức”, giữ trọn lề lối gia phong và phẩm hạnh của chính mình. Thế nên, nàng rất “thùy mị, nết na”. Trong gia đình chồng, nàng luôn “giữ gìn mực thước, ko để lúc nào vợ chồng phải tới thất hòa”. Thế là, “hạnh”, một trong những tiêu chuẩn thẩm định con người, nàng đã vẹn tròn. Lễ nghĩa, nàng cũng thông hiểu, am tường. Tuy chẳng phải tiểu thư khuê các, con nhà quyền quý nhưng lời nàng nói ra dịu dàng như vàng như ngọc. Ngày tiễn chồng ra trận, nàng đã dặn rằng: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”. Từng lời, từng chữ nàng thốt ra thấm đẫm tình nghĩa vợ chồng thủy chung, son sắt, khiến “mọi người đều ứa hai hàng lệ”. Phận làm vợ, người nào chẳng mong phu quân mình được phong chức tước, áo gấm về làng. Còn nàng thì ko. Nàng chỉ ước ao giản dị rằng chàng Trương trở về được bình yên để có thể sum họp, đoàn viên gia đình, hạnh phúc trạch êm như ngày nào. Nhưng mong ước của nàng đã ko thực hiện được. Bị chồng một mực nghi oan, Vũ Nương tìm mọi lời lẽ để chứng minh sự trong sạch của mình. Nàng vẫn đoan trang, đúng mực, chỉ nhẹ nhõm giảng giải: “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Xa cách ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng. Ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Xin chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”. Lời nói của nàng luôn từ tốn, nhẹ nhõm, ko quá hoa mỹ nhưng chất chứa tình nghĩa. Chỉ qua những lời thoại, từ “ngôn” của Vũ Nương đã để lại một ấn tượng khó phai trong lòng người đọc bởi vẻ từ tốn, tế nhị của nàng. Và cũng từ những câu nói đó, chúng ta cảm thu được sự hy sinh vô bờ của nàng vì chồng con, gia đình. Khi chồng ra trận, cả nước nhà nhà chồng trĩu nặng trên đôi vai gầy guộc, mỏng manh của nàng. Nàng phải sinh con một mình giữa nỗi độc thân lạnh lẽo, thiếu sự vỗ về, xoa dịu của người chồng. Thật là một thử thách quá khó khăn với một người phụ nữ chân yếu tay mềm. Nhưng nàng vẫn vượt qua tất cả, một mình vò võ nuôi con lớn khôn, đợi chồng về. Không những thế, nàng còn hết lòng chăm lo cho mẹ chồng ốm nặng: “Nàng hết sức thuốc thang, lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên nhủ”. Thời xưa, quan hệ mẹ chồng – nàng dâu dường như chưa bao giờ êm đẹp và chứa đầy những thành kiến khe khắt.
“Mẹ anh nghiệt lắm anh ơi
Biết rằng có được ở đời với nhau
Hay là vào trước ra sau
Cho cực lòng thiếp, cho đau lòng chàng”.
Nhưng nàng đã mến thương mẹ chồng như chính cha mẹ ruột của mình. Mọi việc trong nhà đều được nàng chăm lo chu tất. Và lời trăn trối cuối cùng của mẹ chồng như một lời nhận xét, thẩm định, một phần thưởng xứng đáng với những công lao và sự hy sinh cao cả của nàng vì gia đình nhà chồng: “Xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Tác giả đã một lần nữa nhắc lại: “Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, tính liệu như với cha mẹ đẻ mình”, như tô đậm tình mến thương của nàng đối với mẹ chồng. Vũ Nương là một nàng dâu đảm đang, thảo hiền trong mắt tất cả mọi người. Vậy là cả “công – dung – ngôn – hạnh” nàng đều vẹn toàn. Nàng chính là đỉnh cao của sự hoàn mỹ về cả vẻ đẹp hình thức lẫn tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam xưa dưới cơ chế phong kiến. Song, số phận chẳng phải mỉm cười với nàng.
Cuộc đời Vũ Nương tiêu biểu cho số phận oan trái của người phụ nữ Việt Nam dưới cơ chế phong kiến. Nàng gặp bao xấu số trên đường đời. Chiến tranh tàn khốc đã khiến bao gia đình li tán. Trước cảnh non sông binh đao tao loạn, Trương Sinh phải đi lính, phó thác cả nước nhà nhà chồng trên đôi vai nhỏ nhỏ của người thiếu phụ.Tất cả mọi việc trong nhà đều trông cậy vào nàng. “Khi xa chồng vừa đầy tuần thì sinh ra một đứa đàn ông, đặt tên là Đản”. Thiếu vắng sự quan tâm, săn sóc của người chồng, song nàng vẫn nuôi nấng, dạy dỗ con thơ lớn khôn, trưởng thành. Vừa một mình chăm sóc, thuốc thang mẹ chồng, Vũ Nương vừa sinh đàn ông, lại thầm lặng, tảo tần nuôi con và cũng một mình lo ma chay, chôn cất mẹ chồng chu đáo. Từng ngày từng ngày trôi, bấy giờ, trên đôi vai nhỏ nhỏ của nàng khó khăn lại chồng chất khó khăn. Rồi chiến tranh cũng qua, cứ ngỡ Vũ Nương lại được sum họp gia đình, đoàn viên cùng chàng Trương, được sống trong hạnh phúc lứa đôi nhưng nàng hằng ước ao. Nàng đâu biết rằng thảm kịch cuộc đời nàng sắp khởi đầu. Những ngày xa chồng, nàng đã lặng thầm nuôi con, và nàng xót xa biết bao lúc nhìn cảnh con thơ thiếu vắng sự chăm sóc, mến thương của người cha.Thế là nàng đã chỉ bóng mình trên tường nhưng bảo với con rằng đó chính là cha Đản. Hành động đó chẳng phải vì nàng quá thương nhớ chồng nhưng xuất phát từ tấm lòng mến thương con vô bờ của một người mẹ. Nhưng nàng sẽ chẳng bao giờ ngờ được rằng nàng chết chính bởi cái bóng của chính mình. Ngày Trương Sinh về, nghe lời con thơ dại nhưng hàm oan vợ: “Trước đây có người đàn ông đêm nào cũng tới. Mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”. Trương Sinh vốn là tên thất học, lại thêm “tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức”. Lời nói thơ ngây của nhỏ Đản chứa đầy những cụ thể đáng ngờ, như đổ thêm dầu vào lửa. Tính đa nghi của Trương Sinh đã dâng lên tới cao trào và một mực “đinh ninh là vợ hư”. Chàng ko còn đủ tĩnh tâm để suy đoán, phân tích, bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ, ko tin cả những nhân chứng bênh vực cho nàng, cũng nhất quyết ko nói ra nguyên nhân để nàng có dịp giải oan. Và Trương Sinh thoáng chốc hóa một kẻ vũ phu, thô bạo, “nhiếc mắng nàng và đánh đuổi đi”. Vượt qua được mọi gian lao, vất vả trong chiến tranh để vẹn tròn phận dâu thảo hiền nhưng Vũ Nương ko thể vượt qua nổi bức tường của cơ chế nam quyền độc đoán, bất công, tàn bạo. Lời nói của nàng đầy thương tâm: “Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu”. Ngay từ đầu, cuộc hôn nhân giữa nàng và chàng Trương đã có phần ko đồng đẳng và mang tính chất một cuộc trao đổi, sắm bán: Trương Sinh “xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về”. Điều đó khiến chúng ta động lòng nhớ tới tình cảnh một Thúy Kiều lúc phải bán mình chuộc cha:
“Cò kè bớt một thêm hai
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm”.
Sự cách bức về địa vị xã hội như thế đã tạo cho Trương Sinh một cái thế kế bên những uy quyền vốn có của người chồng, người đàn ông trong gia đình gia trưởng phong kiến. Chính cái gia đình “chồng chúa vợ tôi”, “phu xướng phụ tùy” đó đã khiến nàng bị khinh rẻ, đối xử tệ bạc. Một người vợ vốn tiết hạnh, ngoan hiền, vâng theo cả “tam tòng tứ đức” lại phải mang tiếng xấu “hư thân mất nết”. Mọi lời nhiếc mắng của Trương Sinh như giày đạp lên phẩm giá cao đẹp nhưng nàng đã giữ giàng cả một đời. Khi xa chồng, Vũ Nương là người vợ thủy chung, yêu chồng tha thiết, nỗi buồn nhớ cứ dài theo những “bướm lượn đầy vườn”, “mây che kín núi”. Thế nhưng lúc vừa mới sum họp hạnh phúc, nàng lại bị gán cho tội danh: “lừa chồng dối con”. Thật đớn đau, thật tủi nhục! Bi kịch của cuộc đời Vũ Nương chính từ lễ giáo bất công và cơ chế nam quyền. Người đàn ông với những quyền hành về số phận, cuộc đời người phụ nữ đã đẩy Vũ Nương vào đường cùng ko lối thoát. Cái chết oan khúc, xót xa của Vũ Nương, người nào có thể ngờ người gây ra thảm kịch đó chính là chồng và con nàng, những người thân nhưng nàng rất đỗi mến thương, chăm sóc. Nàng, một người con gái luôn khát khao hạnh phúc dù chỉ nhỏ nhoi, bình dị nhưng cho tới lúc trẫm mình xuống sông thì cuộc đời nàng đúng là một chuỗi dài những thảm kịch. Hạnh phúc đâu quá xa vời nhưng xã hội phong kiến đó ko cho nàng chạm tay tới tận hưởng “thú vui nghi gia nghi thất” một lần duy nhất trong đời. Nỗi oan của nàng thấu cả trời xanh. Ngày xưa, Quan Âm Thị Kính mắc oan giết mổ chồng bởi “tình ngay lý gian”. Nhưng nàng Thị Kính cũng còn hiểu ra nỗi oan khúc của mình từ đâu nhưng thành. Còn lúc đã chìm sâu dưới dòng nước, Vũ Nương vẫn ko hề biết rằng mình phải chết vì đâu. Bi kịch của Vũ Nương là một lời tố cáo xã hội phong kiến xem trọng quyền uy của kẻ giàu và của người đàn ông trong gia đình, đồng thời bộc bạch niềm cảm thương đối với số phận oan trái của người phụ nữ. Người phụ nữ tiết hạnh ko những ko được bênh vực, chở che nhưng lại còn bị đối xử một cách bất công, vô lý; chỉ vì lời nói thơ ngây của đứa trẻ mồm còn hôi sữa và vì sự hồ đồ, vũ phu của anh chồng ghen tuông tuông nhưng tới nỗi phải kết liễu cuộc đời mình. Phcửa ải chăng đằng sau nỗi oan của nàng còn bao nhiêu nỗi oan của những người phụ nữ khác trong cơ chế phong kiến bị rẻ rúng, suốt đời sống trong câm lặng.
Xót thương trước nỗi khổ cực vì bị giày đạp của những người phụ nữ, Nguyễn Dữ như muốn giải oan và bù đắp cho những đức tính tốt đẹp của nàng bằng một cuộc sống khác với trần giới. Nhưng ở chốn “làng mây cung nước”, Vũ Nương không thể nào nguôi nỗi nhớ về những oan ức, bĩ cực ở cõi tục. Sống giữa cõi tiên huyền ảo, đẹp diệu kỳ nhưng nàng dường như ko bao giờ dứt tình nghĩa gia đình, mãi khóc thương cảnh gia đình tiêu điều xơ xác. Nàng xin lập đàn tẩy oan, khát khao được trả lại danh dự của một người con gái tiết hạnh. Và cuối cùng, nỗi oan của nàng đã được giải. Từ chốn thủy cung, Vũ Nương “ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng giữa dòng, theo sau có tới năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ sắc màu, lúc ẩn, lúc hiện”. Nhưng xót xa thay, nàng “không thể trở về nhân gian được nữa”. Nỗi oan tình của nàng đã được giải oan, xả stress nhưng âm dương đôi đường cách trở, nàng chẳng bao giờ được làm vợ, làm mẹ chốn cõi tục. Nhỏ Đản mãi mãi là một đứa nhỏ mồ côi mẹ. Nếu nàng được trở về với cõi tục thì liệu xã hội phong kiến bất công ko có nơi dành cho cái đẹp này có dành cho nàng một cuộc sống ấm êm, bình yên, hay một lần nữa, nàng phải đớn đau, buồn khổ. Dù trở lại chốn tiên giới xinh đẹp, nhưng cuối cùng, ước mong cả đời của nàng, hạnh phúc “nghi gia nghi thất”, chỉ mãi là ước mơ hảo huyền.
Hình tượng nhân vật Vũ Nương là hiện thân của lòng vị tha và vẻ đẹp người phụ nữ. Song cuộc đời nàng gặp nỗi thảm kịch lớn. Đấy chính là tấn thảm kịch của người phụ nữ Việt Nam trong cơ chế phong kiến gian ác, cơ chế của sự lỗi thời và cả bóng đêm vĩnh cửu. Điều đó khiến chúng ta phải động lòng trước số phận của người phụ nữ.
“Đớn đau thay phận phụ nữ
Lời rằng bạc phận cũng là lời chung”
4. Phân tích vẻ đẹp và số phận của Vũ Nương
Vũ Nương là con nhà nghèo, một phụ nữ bình dân. Người đã được giới thiệu trong truyện “ tính tình đã thùy mị nết na lại thêm tư duy tốt đẹp. Còn chồng nàng, Trương Sinh, là một người đa nghi, con nhà giàu, ít học. Chính những tính nết này đã đẩy Vũ Nương vào thảm kịch.
Nguyễn Dữ đã tập trung khắc họa vẻ đẹp tiết hạnh của Vũ Nương trong các mối quan hệ với chông, với mẹ chồng và với nhỏ Đản – đứa con yêu quý của nàng. Để làm nổi trội nàng, nhà văn đã đặt nhân vật của mình vào các hoàn cảnh, tình huống đặc trưng. Nàng là một người vợ thủy chung, rất đỗi mến thương chồng. Khi mới lấy chồng, Vũ Nương cư xử đúng mực, nhường nhịn, giữ gìn mực thước, nên cho dù Trương Sinh có tính đa nghi, đối với vợ thường phòng nghừa quá mức nhưng gia đình vẫn luôn êm ấm thuận hòa. Khi tiễn chồng đi lính, nàng ko trông mong vinh hiển, chỉ cầu mong chồng được bình yên trở về: “ Chàng đi chuyến này … mang theo 2 chữ bình yên thế là đủ”. Nàng rất thông cảm với nỗi vất vả gian lao nhưng chông nàng sẽ phải chịu đựng nơi trận mạc. Nàng đã nói lên nỗi khắc khoải, nhớ nhung của mình – những lời nói ân tình thắm thiết này của nàng lúc tiễn chồng đã làm cho người đọc xúc động. Khi Trương Sinh đi trận mạc, xa chồng, Vũ Nương càng tỏ rõ là người vợ thủy chung, yêu chông rất đỗi. Mỗi lúc thấy bướm lượn đầu mùa – cảnh vui mùa xuân hay mây che hình núi – cảnh buồn mùa đông, nàng lại chạnh nỗi nhớ nhung da diết, thổn thức tâm tình. Tiết hạn đấy của Vũ Nương cũng được khẳng định lại trong câu nói với chồng: “ … xa cách 3 năm, giữ trọn một tiết, tô son điểm phẩn, từng đã nguôi lòng…”. Nàng còn là 1 người con dâu hiếu thảo với mẹ chồng. Trong lúc chồng đi vắng, nàng đã sinh con. Một mình vừa nuôi con nhỏ, vừa chăm lo săn sóc mẹ chồng. Khi mẹ chồng ốm, nàng đã hết lòng chăm sóc, lễ bái thần phật, lấy lời ngọt ngào khuyên đơn. Khi mẹ chồng mất, nàng lo ma chay, tế lễ chu đáo như với cha mẹ đẻ của mình. Lời trăn trối của mẹ chồng đã ghi nhận công lao của Vũ Nương với gia đình nhà chồng. Vũ Nương đã làm tròn trách nhiệm của một người mẹ rất mực mến thương con. Khi chồng đi lính, nàng đã sinh con một mình, dành hết tình mến thương cho nhỏ Đản. Nàng đã yêu con bằng cả phần người cha cộng lại. Nàng còn chỉ bóng của mình trên tường để dỗ con vì thương con thiếu vắng tình cha. Nàng là một người phụ nữ trọng phẩm chất và tình nghĩa. Khi bị chồng nghi oan, Vũ Nương đã cố phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình. Nàng nói lên thân phận mình, nói tới tình nghĩa vợ chồng và khẳng định tấm lòng thủy chung, trong trắng, cầu xin chồng đừng nghi oan. Nàng đã tìm mọi cách để cứu vãn, hàn gắn hạnh phúc gia đình đang nguy cơ tan vỡ. Vũ Nương đã chọn cái chết để tự giải oan cho mình, để bảo vệ phẩm chất của người phụ nữ. Tìm tới cái chết là tìm tới giải pháp tiêu cực nhưng đó là giải pháp duy nhất của Vũ Nương. Lời than của nàng là 1 lời thề nguyện: “Xin thần sông chứng giám…” Hành động trầm mình tự vẫn của nàng là hành động quyết liệt cuối cùng để bảo toàn danh dự. Đối với người phụ nữ xấu số đó, phẩm giá còn cao hơn cả sự sống. Vũ Nương còn là 1 người phụ nữ rất coi trọng tình nghĩa. Dù thương nhớ về quê hương song nàng quyết giữ lời hứa với Linh PhiVũ Nương quả là 1 người phụ nữ lí tưởng : xinh đẹp, nết na, đảm đang, hiếu thuận, thủy chung,… Một con người như thế đúng ra phải được lợi hạnh phúc trọn vẹn, vậy nhưng lại phải chết 1 cách oan uổng, đớn đau. Nàng phải chịu nỗi kỉ oan, bị chồng nghi oan là thất tiết, bị đối xử bất công, tàn nhẫn tới mức nàng phải tìm tới cái chết để giải tỏ tấm lòng mình. Nguyên nhân trực tiếp dẫn tới cái chết của Vũ Nương là từ chiếc bóng trên vách và lời nói của nhỏ Đản. Nhưng nguyên nhân sâu xa trước hết là từ người chồng đa nghi và thô bạo. Trương Sinh được giới thiệu từ đầu là 1 người “có tính đa nghi, đối với vợ thường phòng ngừa quá mức” và là con nhà hào phú nhưng ko có học. Đó chính là mầm mống của thảm kịch. Tiếp theo đó là sự xử xự hồ đồ, độc đoán, phũ phàng của Trương Sinh lúc ghen tuông tuông mù quáng. Trương Sinh đã phớt lờ tất cả các thời cơ để tránh được thảm kịch và nhiếc mắng, đuổi đánh Vũ Nương đi. Nguyên nhân tiếp theo là lễ giáo phong kiến khắc nghiệt, ko chấp nhận sự lầm lỡ của người phụ nữ, coi người phụ nữ ko giữ được tiết hạnh là mắc vào điều ô nhục nhất. Tất cả những cái đó đã bức tử Vũ Nương, khiến nàng phải chết. Vũ Nương chính là một nạn nhân của xã hội phong kiếnCuộc sống của Vũ Nương dưới thủy cung kết thúc có hậu hay ko – phần này hoàn toàn là những tình tiết kì ảo, trình bày tính chất truyền kì của truyện. Vũ Nương được Linh Phi cứu và sống sung sướng, hạnh phúc dưới thủy cung, đặc trưng là cụ thể kết thúc tác phẩm : “ Vũ Nương ngồi trên 1 chiếc kiệu hoa, đứng ở giữa dòng, theo sau có tới 50 chiếc xe cờ, võng, lọng, rực rỡ dòng sông, lúc ẩn lúc hiện.” Sự hiện diện xinh tươi của Vũ Nương chứng tỏ nàng vô tội và ở toàn cầu đó, nàng đã được đối xử xứng đáng với phẩm giá của mình. Chi tiết cuối truyện góp phần làm hoàn chỉnh thêm tư cách của Vũ Nương : “ Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng ko bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp không thể trở về nhân gian được nữa…” Nó góp phần tạo nên kết thúc phần nào có hậu trình bày ước mơ của con người về sự bất tử, về cái đẹp, cái thiện, trình bày lòng khát khao 1 cuộc sống công bình, hạnh phúc cho những con người lương thiện, đặc trưng là phụ nữ. Tuy nhiên, nó ko làm giảm đi tính thảm kịch của câu chuyện. Vũ Nương và chồng con vẫn chia phôi âm dương đôi ngả. Vũ Nương chỉ hiển linh trong thoáng chốc rồi “ bóng người nhoang nhoáng, mờ nhạt dần và biến đi mất”. Hạnh phúc đã vĩnh viễn mất tích. Sương khói tẩy oan tan đi chỉ còn lại sự thực đắng cay : nỗi oan người phụ nữ ko đàng tràng nào giải được.
Sự hối lỗi của người chồng cũng ko hàn gắn được gia đình. Lời từ biệt của Vũ Nương như 1 lời tố cáo chốn nhân gian phong kiến ngày xưa đầy oan trái, khổ đau, ko chốn dung thân cho con người, đặc trưng là người phụ nữ.
5. Phân tích vẻ đẹp của nhân vật Vũ Nương
Nguyễn Dữ là học trò xuất sắc của Tuyết giang phu tử Nguyễn Bỉnh Khiêm sống giữa thế kỉ XVI lúc nhưng cơ chế phong kiến nhà Lê đang khởi đầu suy yếu. Nguyễn Dữ chỉ làm quan có một năm rồi về sống ẩn dật viết sách và sáng tác văn học. Chuyện người con gái Nam Xương được rút ra trong tập Truyền kì mạn lục, là một câu chuyện được nhà văn thông minh trở thành một tác phẩm văn học thực sự. Qua câu chuyện ta thấy nổi lên là nhân vật Vũ Nương với số phận và phẩm chất cao đẹp.Số phận của Vũ Nương là một tấn thảm kịch đầy thương tâm.
Vũ Nương được giới thiệu là người phụ nữ phong kiến mang vẻ đẹp truyền thống “công – dung – ngôn – hạnh”. Bằng sự đồng cảm thâm thúy và tấm lòng trân trọng nâng niu,Nguyễn Dữ đã dành hết tâm huyết của mình để truyền tụng Vũ Nương.Nhưng thật oái ăm, Vũ Nương được kết tinh bao nhiêu thứ đẹp thì để rồi trở thành trắng tay trong cuộc đời. Trong hoàn cảnh tao loạn chiến tranh phong kiến, Trương Sinh phải đầu quân đi lính, nàng vất vả một mình nuôi con nhỏ chăm sóc mẹ chồng già yếu ốm đau. Cái bóng trên tường nhưng nàng vô tình dỗ con chính là nguyên nhân của sự sụp đổ. Ngày sum họp cũng là ngày nàng vĩnh viễn rời xa tổ ấm. Đớn đau hơn nữa kẻ đẩy nàng vào chỗ chết ko người nào khác chính là chồng và con mình. Chỉ vì lời nói thơ ngây của con trẻ “Ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư” nhưng Trương Sinh nghi vợ mình ko thuỷ chồng.
Tâm lý ghen tuông tuông khiến Trương Sinh tới mù quáng, sự ích kỷ của kẻ vô học khiến Trương Sinh băm bổ phỉ bám và độc quyền ko cho vợ thanh minh. Quả thực sự ghen tuông tuông dẫn tới đa nghi đó của người đàn ông làm cho người vợ dù có tinh khôn tới mấy thì cũng khó lòng nhưng lường hết được. Lẽ ra cuộc sống hạnh phúc là tin tưởng là thông cảm nhưng một kẻ tầm thường như Trương Sinh thì chỉ cần một cái cớ rất nhỏ đó cũng có thể tưởng tượng ra sự việc vô cùng nghiêm trọng. Cứ thế nhưng dẫn tới tan tành cửa nhà. Tuy nhiên xét về khách quan, trong hoàn cảnh Trương Sinh trở về sau ba năm mẹ đã mất, chỗ dựa ý thức lớn nhất là vợ và con. Chàng cứ suy diễn để rồi tưởng tượng có người thứ ba xen vào trong gia đình mình. Chàng ko còn tỉnh táo để suy xét lời con nói ngay cả sự van xin của vợ cũng chẳng thèm xuôi tai. Nàng ko tự giải oan cho mình được nữa đành gieo mình xuống sông tự tử.
Nỗi oan của Vũ Nương sẽ còn đeo đẳng mãi nếu như ko có một đêm tình cờ “Cha Đản lại tới kia kìa” Người cha thứ hai vô tình đó chính là nguyên nhân sâu xa gây ra cái chết oan uổng của Vũ Nương. Thế là chỉ một trò đùa trong thương nhớ dẫn tới cái chết oan khiên của người vợ dung hạnh. Nàng chết sự lẻ loi độc thân và nỗi hối lỗi sẽ là hình phạt dày vò Trương Sinh suốt quãng đời còn lại. Cái chết của Vũ Nương cũng là đại diện cho số phận chung của người phụ nữ phong kiến. Một con người đẹp nết đẹp người, thuỷ chung son sắt thì bị nghi oan là thất tiết. Một con người hết lòng xây dựng cho hạnh phúc gia đình tới cuối cùng phải bất hạn lìa xa cuộc đời. Tác phẩm tố cáo sắt đá cái xã hội nam quyền độc đoán, cảnh chiến tranh phong kiến dẫn tới sự chia phôi.
Người đọc cũng được cảnh tỉnh về sự nhẹ dạ vô ý dẫn tới những hậu quả thương tâm.Dưới cơ chế phong kiến người phụ nữ bị coi rẻ, mất hết quyền tự chủ nhưng bằng tấm lòng nhân đạo cao cả Nguyễn Dữ đã dành những trang viết hết sức xúc động để truyền tụng phẩm chất của Vũ Nương. Mặc dù cuộc hôn nhân với Trương Sinh là hoàn toàn gượng gạo ép nhưng nàng luôn sống yên phận hết lòng, vun vén cho hạnh phúc nhà chồng. Biết chồng đa nghi và hay ghen tuông lúc nào nàng cũng sống “khuân phép” để vợ chồng khỏi “thất hoà”. Nàng thuỷ chung son sắt đợi chờ chồng trong những năm tháng chồng phải đi trận mạc: “Mỗi lúc bướm lượn đầy vườn mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời ko thể nào ngăn được”. Khi bị chồng nghi oan nàng nỗ lực dãi bày và níu kéo lúc hôn nhân có nguy cơ tan vỡ.Chuyện mẹ chồng nàng dâu trong xã hội phong kiến thường là chuyện đố kị nhất trong gia đình.
Nhưng với Vũ Nương nàng là người con dâu hiếu thảo: “Chăm sóc mẹ chồng như cha mẹ đẻ mình”, chữa chạy thuốc thang lúc mẹ chồng ốm làm cho mẹ chồng phải nể trọng. Trước lúc chết bà cụ còn nguyện cầu “xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”. Khi mẹ chồng mất một mình nàng lo ma chay rất chu đáo, được mọi người kính nể. Vũ Nương còn là người mẹ tận tuỵ đảm đang hết lòng mến thương con. Một mình một bóng nuôi con Vũ Nương vừa là người mẹ dịu hiền vừa làm thay trách nhiệm người cha để làm chỗ dựa ý thức cho con trẻ.Về với thuỷ phủ, một toàn cầu lung linh huyền ảo, Vũ Nương được hồi sinh đúng như lời nguyện trước lúc chết. Nàng vẫn mong muốn trở về với quê hương gia đình. Nhưng ước mơ vẫn chỉ là ước mơ.
Tác giả tô vẽ bức tranh dưới thuỷ phủ nhằm hoàn thiện tư cách Vũ Nương: con người đó ngay cả lúc chết vẫn muốn được trở về với quê hương.Bằng tài năng thông minh và tấm lòng nhân đạo cao cả. Nguyễn Dữ đã xây dựng thành người lao động vật Vũ Nương tiêu biểu cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ là những con người có phẩm chất truyền thống tốt đẹp nhưng lại gặp nhiều nỗi oan trái đay nghiến cái xã hội nhưng ta nói tới là:
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Nhưng mà em vẫn giữ tấm lòng son(Bánh trôi nước – Hồ Xuân Hương)
6. Cảm nhận vẻ đẹp của Vũ Nương
Vũ Nương quê ở Nam Xương, thùy mị nết na, xinh đẹp. Cuộc đời của Vũ Nương thật là ngắn ngủi, nhưng nàng đã làm tròn trách nhiệm của người phụ nữ. Biết giữ gìn mực thước, vì vậy cuộc sống gia đình trong ấm ngoài êm. Trương Sinh đi lính, nàng phải gánh bao vất vả phải sinh nở và nuôi con một mình chăm sóc mẹ già lúc ốm đau, lúc mẹ mất toan lo như cho mẹ mình. Nàng đã làm tròn trách nhiệm làm dâu. làm vợ, làm mẹ.
Vũ Nương cũng giống như bao nhiêu người chinh phụ khác, lúc nào nàng cũng ước mong người chồng trở về đoàn viên. Khát vọng hạnh phúc đó thật là tầm thường giản dị. Người chinh phụ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm luôn khát khao chồng đi lính sẽ được phong tước, phong hầu, để rồi một ngày kia “võng anh đi trước, võng nàng theo sau”. Còn Vũ Nương chẳng ham công danh, võng lọng chỉ xin ngày về mang theo hai chữ “bình yên”. Vũ Nương xem trọng hạnh phúc gia đình, xem đó là tất cả của cuộc đời mình.
Trương Sinh trở về, ước mong của Vũ Nương sắp trở thành hiện thực nhưng ko ngờ lại có một cuộc chia li vĩnh viễn.
Trương Sinh bế con, nó ko theo, chàng dỗ con. Không ngờ thằng nhỏ thơ ngây lại nói: Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Cha tôi chỉ nín thin thít… Trương Sinh gặng hỏi con, thì đã được nhỏ Đản nói rõ ràng: Cha nó ngày nào cũng tới, mẹ nó đi cha nó cũng đi theo, vốn tính cả ghen tuông, Trương Sinh cho rằng có người đàn ông thứ hai xen vào gia đình mình.
Nghi ngờ này sẽ được xả stress nếu Trương Sinh cho biết câu nói của con. Trương Sinh ko làm tương tự. Cái thói ghen tuông tuông thô lỗ ăn sâu vào tâm trí, làm cho Trương Sinh mất lí trí, thiếu tỉnh táo đã nhiếc mắng Vũ Nương thậm tệ rồi đánh đuổi nàng đi. Trương Sinh bất chấp những lời thanh minh, van xin tha của Vũ Nương, khiến nàng chỉ còn một tuyến đường lấy cái chết để thổ lộ lòng mình.
Từ đây ta nhận thấy nguyên nhân cái chết của Vũ Nương còn do: Chiến tranh li tán, vợ phải xa chồng tạo nên mối ngờ vực, xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ.
Cái chết của Vũ Nương đã chứng minh rằng: Hạnh phúc lứa đôi chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở của tình mến thương chân chính, có sự thông cảm và sẻ chia.
Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên phân mục Tài liệu của Thư Viện Hỏi Đáp VN.

Tagshọc tập

[rule_2_plain]

#Top #bài #phân #tích #vẻ #đẹp #của #Vũ #Nương #siêu #hay


  • Tổng hợp: Thư Viện Hỏi Đáp
  • Nguồn: https://bigdata-vn.com/top-6-bai-phan-tich-ve-dep-cua-vu-nuong-sieu-hay/
Back to top button