Top

Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy hay nhất

Nguyễn Duy là thi sĩ có nhiều tác phẩm rực rỡ trong chương trình văn học phổ thông. Phong cách thơ ông có sự liên kết hài hòa giữa cái duyên dáng trữ tình với chất thế sự đậm đặc. Ông đã góp phần làm mới thể lục bát bằng những tìm tòi theo hướng hiện đại. Bài thơ “Đò Lèn” được sáng tác năm 1983 trong một dịp thi sĩ trở về quê hương, sống với hồi ức đan xen nhiều buồn vui thời thơ ấu. Nhà thơ bộc bạch tấm lòng yêu quý, kính trọng rất mực của người cháu đối với người bà đã mất. Mời các bạn tham khảo một số bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy đã được Thư Viện Hỏi Đáp tổng hợp trong bài viết sau đây.

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 1

Nguyễn Duy là một thi sĩ có nhiều đóng góp trong nền thơ ca Việt Nam, bản thân tác giả là một người sớm mồ côi cha mẹ nên xúc cảm của ông về tuổi thơ của mình thật thân thiện và nó gắn bó trong quãng đời của ông, chính vì vậy những xúc cảm đó đã tạo cho ông những nguồn cảm hứng để sáng tác lên bài Đò Lèn.

Trong một lần về thăm lại quê hương những xúc cảm của quê hương lại vọng lại trong kí ức của tác giả, ông nhớ lại những kí ức xưa bên bếp lửa và những hình ảnh khác lúc sống bên người bà của mình, những hình ảnh đó hiện lên trong con người của tác giả có lúc vui có lúc buồn nó đan xen và tạo nên những cung bậc đan xen và thầm kín sâu lắng.

Mở đầu bài thơ tác giả đã nói về nỗi thương nhớ trong tâm hồn của tác giả và hình ảnh đó đã tạo nên những nỗi nhớ da diết và dâng trào trong trái tim của tác giả, hình ảnh đó đã đọng lại trong tim tác giả một cách thâm thúy, hình ảnh trong những dòng thơ đầu thì cậu nhỏ Duy là một người tinh nghịch, với những trò chơi dân gian phổ thông. Lúc thì đi bắt cá lúc thì đi bắt chim sẻ, những hình ảnh đó hiện lên thật sinh động trong con người của tác giả bởi hình ảnh đó hiện lên thật sinh động và ý nghĩa, thú vui của tác giả về kí ức tuổi thơ lúc được chơi những trò chơi đó.

Trong kí ức về tuổi thơ có những hình ảnh về những mùi hoa huệ thơm ngát hương hòa vào cùng mùi hương bay nhấp nhoáng trong vòng ko gian ở chùa Trần, tác giả đã nói lên những nỗi nhớ về khoảng thời kì đã qua của mình, giờ đây lúc tác giả hồi ức lại thì đó chỉ còn là những nỗi thương nhớ, và xen vào các hình ảnh khác đó là một hình ảnh lắng động nhiều xúc cảm và những nỗi nhớ triền miên trong tình yêu tuổi thơ của mình:

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

Hình ảnh đó đã đan xen trong tâm hồn của tác giả sinh động và thật ngộ nghĩnh nó đang bao trùm lên một khoảng ko gian vô tận và cuốn hút vào những thú vui của dân gian bằng những câu chuyện hay. Và nó đem lại cho tác giả nhiều xúc cảm và những hương vị ngọt ngào về một tuổi thơ của mình.

Các hình ảnh khác cũng được hiện lên đó là những khoảng ko gian yên bình yên tĩnh nơi tác giả đã từng sống, thú vui của tác giả là được hòa nhập và tạo nên những nỗi thương nhớ trong tâm hồn của tác giả. Những nỗi nhớ và hoài niệm đó đã làm cho tác giả nhớ mong và hồi ức lại kí ức tuổi thơ của mình. Toàn bộ những hình ảnh và kí ức của tuổi thơ đã được tác giả mô tả lại để qua đó nói lên những nhịp độ nhẹ nhõm và vô cùng tha thiết.

Nó làm cho mỗi chúng ta đều cảm thấy thương nhớ trong kí ức của mình, hình ảnh về một con người tuổi thơ đã tràn trề trong tâm trí của tác giả. Hàng loạt các hình ảnh khác cũng vô cùng thiêng liêng đã gắn bó với tác giả, sớm mồ côi cha mẹ nên tác giả phải ở cùng với bà ngoại. Hình ảnh gắn bó với người bà cũng đã hiện lên trong kí ức của tác giả:

Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế

Bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

Bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

Những hình ảnh trong kí ức của tác giả về người bà của mình đó là một người bà tảo tần chịu thương chịu thương chịu khó, cả cuộc đời của bà lam lũ vất vả để kiếm tiền nuôi cháu. Dù cuộc sống của hai bà cháu vô cùng cực khổ vất vả nhưng người bà này vẫn lam lũ để có thể nuôi nấng người cháu của mình, hình ảnh đó đã thấm đẫm trong ý thức của người bà.

Trong những ngày gió rét bà vẫn thập thững những bước đi để kiếm tiền nuôi cháu, có lúc mò cua bắt cá nuôi cháu từng ngày. Kí ức về người bà làm cho tác giả nhớ tới những kỉ niệm của hai bà cháu, tác giả mong ước và đang hồi ức lại những thời kì bên bà, hình ảnh về người bà của mình đang lam lũ vất cả từng ngày để kiếm sống nó đã làm cho tác giả có những cái nhìn thâm thúy hơn về chính cuộc đời của bà mình.

Nhiều những cụ thể đã được trình bày thâm thúy qua bài viết qua đó nó trình bày những nỗi thương nhớ và bao cung bậc xúc cảm dâng trào trong tâm hồn của tác giả, tác giả đang nhớ mong và có hồi ức đẹp về người bà của mình, sự tảo tần đó làm giờ đây lúc tác giả thương nhớ lại tác giả có những cảm hứng về những niềm tin và mong ước được đền đáp công ơn nuôi nấng về người bà của mình.

Trong những kí ức đẹp đấy tác giả đang nhớ mong và da diết trong tình cảm của mình đối với người bà, tác giả thương nhớ lại từ những hình ảnh thân thuộc và nó thân thiện trong tâm hồn của con người dường như tác giả đang cố nhớ lại những kí ức đó bởi kí ức đó thật đẹp.

Và nó tạo nên nhiều ấn tượng thâm thúy trong tâm hồn của con người, nhiều hình ảnh đẹp gợi cảm và vô cùng mạnh mẽ nó đã thu hút nhiều sự chú ý và cũng vô cùng thâm thúy của tác giả. Tác giả đang tạo nên những cung bậc khác nhạt nhòa và mang những dấu ấn mạnh mẽ trong tâm hồn tác giả. Vượt qua bao khó khăn và thử thách gian lao của cuộc sống người bà vẫn lặng lẽ và hy sinh cuộc đời của mình cho người cháu để làm nên những điều thật thần kì.

Tác giả đã tưởng tượng nhiều hình ảnh khác cũng sinh động và thu hút hơn, nó mang đậm nét những yếu tố thần kì và cũng mang đậm những nét tiêu biểu cho những thế hệ khác:

Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi

lúc tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!

Xúc cảm của thi sĩ đã được trình bày chân thực và nó mang những dấu ấn trong tâm hồn của tác giả, ông dường như đang nói về những kí ức đó để hồi ức và thương nhớ có chút tiếc nuối về quãng thời kì đã qua của mình, hình ảnh xảy ra đã mang nhiều tiếc nuối trong tâm hồn của tác giả. Ông đang rung động và có những nỗi thương nhớ thâm thúy về kí ức tuổi thơ của mình, hàng loạt những hình ảnh khác cũng sinh động và vô cùng thu hút nó tạo nên những cung bậc riêng và giàu xúc cảm trong lòng tác giả.

Một trong những nỗi thương nhớ thầm kín và thâm thúy đó là nỗi nhớ về một quãng thời kì đã qua chúng ta ko người nào ko từng có kí ức tuổi thơ. Vậy nhưng tác giả đã vẽ lại để mỗi chúng ta có những khoảng thời kì riêng để nghĩ về những kí ức và nhiều kỉ niệm vui tới vậy. Hình ảnh về người bà và hàng loạt những hình ảnh gắn với tuổi thơ của tác giả đã được tác giả trình bày nó một cách cụ thể và sinh động hơn nó đã mang đậm và có những dấu ấn mạnh mẽ trong tâm hồn của tác giả, những nỗi nhớ mong đó đã khắc sâu trong tâm trí của mỗi người.

Những lời sám hối và tiếc nuối về những khoảng thời kì đã qua đã được trình bày thâm thúy trong tâm hồn của tác giả. Ông dường như đang tiếc nuối về những khoảng thời kì đã qua, nhiều hình ảnh khác cũng trình bày được điều đó, những hình ảnh sinh động và hàng loạt những cụ thể gợi hình gợi cảm đã được trình bày thâm thúy trong bài thơ. Mỗi chúng ta đều có quyền tự hào về kí ức của mình, nhưng chúng ta chắc hẳn cũng có những phút tiếc nuối về những gì đã qua đi.

Những điều tác giả đã tiếc nuối trong khổ thơ này đó là những gì đã qua nhưng tác giả ko làm được hình ảnh của những kí ức tuổi thơ đã vang vọng trong tâm hồn của người một cách mạnh mẽ nó đang cuốn hút và tạo nên nhiều khoảng ko gian riêng và bao trùm sâu lắng lên tâm hồn của người.

Những kí ức đó tác giả đang tiếc nuối vì chưa có dịp báo đáp công ơn nuôi dưỡng của bà, hình ảnh đó trình bày những thương nhớ, lúc giờ đây bà chỉ còn là nấm mồ tác giả đau xót và sám hối về lương tâm của mình, tác giả muốn nhắn nhủ chúng ta hãy sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc ở phút giây ngày nay và sống với hiện thực và đó là những điều nhưng lúc qua đi chúng ta ko thấy tiếc nuối nữa.

Tình bà cháu đã trình bày thâm thúy trong tác phẩm này đó là những lời ngọt ngào và sâu lắng từ trong trái tim của tác giả.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 2

Nguyễn Duy viết bài thơ “Đò Lèn” vào tháng 9 năm 1983, in trong tập thơ “Ánh trăng”, xuất bản năm 1984. Bài thơ có hai câu thơ bảy tiếng, một câu thơ chín tiếng, còn lại 32 câu thơ tám tiếng.

Các dòng thơ tiếp nối xuất hiện như giọng kể tâm tình. Các địa danh thân thuộc của quê hương thân yêu từng gắn bó với tâm hồn của tác giả thời thơ nhỏ, từng in dấu chân, hơi thở, nhịp sống của bà được nhắc lại xiết bao nỗi ân tình: Đò Lèn, cống Na, chợ Bình Lâm, chùa Trần, đền Cây Thị, đền Sòng, Ba Trại,…

Hình ảnh người bà nghèo khổ, tảo tần, phúc hậu… được tái tạo trong những vần thơ bình dị có một sức ám ảnh và cuốn hút kì lạ. Nguyễn Duy mồ côi mẹ, sống trong sự tỷ mỉ mến thương của bà ngoại, nên lời thơ mới chân thực và cảm động tương tự. Càng về cuối, giọng thơ càng ngậm ngùi thương nhớ bà.

Hai khổ thơ đầu tác giả nhắc lại những kỉ niệm tuổi thơ của một chú nhỏ nhà nghèo, thích chơi bời lêu têu, tinh nghịch… chẳng kém người nào: đi câu cá ở cống Na, theo bà đi chợ Bình Lâm, đi bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật, cũng có “đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần”. Có những câu thơ giản dị, bình dị như lời nói nhưng gợi lên nhiều rung động về cái hồn nhiên, ngộ nghĩnh của một cậu nhỏ nơi làng quê trước đây:

“níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần”.

Cũng đã từng “lên chơi đền Cây Thị”. Với đôi chân đất của con nhà nghèo, vẫn hào hứng trong mùa lễ hội, vẫn “đi đêm xem lễ đền Sòng”. “Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh” (Tản Đà), giáp ranh với tỉnh Ninh Bình thế nhưng chú nhỏ vẫn lặn lội đất đi đêm xem lễ đền Sòng”. Hoa huệ trắng, khói trầm, điệu hát văn và bóng cô đồng “lảo đảo” đã in sâu vào tâm hồn tuổi thơ của Nguyễn Duy:

“mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng”.

Từ láy “lảo đảo” là cái thần của bức tranh về cô đồng nhưng chúng ta thường nhìn thấy ở một số lễ hội dân gian. Nguyễn Duy thường nhắc tới hoa huệ với màu trắng và mùi thơm bằng tất cả sự thanh khiết của tâm hồn mình. Hoa huệ trên bàn thờ mẹ:

“Lần thần hương huệ thơm đêm

khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn”.

(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa)

Trong bài thơ “Đò Lèn”, ông cũng hai lần nhắc tới:

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm…

cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm…

Sức cuốn hút, ám ảnh của bài thơ “Đò Lèn” là ở hình tượng người bà. Đó là bà ngoại của Nguyễn Duy. Hối hận, khẽ trách mình vô tâm, vô tình: “Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế”. Nhà nghèo, bà lặn lội “mò cua xúc tép” ở Đồng Quan để có tiền sắm gạo nuôi cháu. Bà đi gánh thuê chè xanh Ba Trại, gánh nặng, đường xa và mấp mô, đêm tối và gió rét, đôi chân bà “thập thững” bước đi.

Đôi vai “chín dạn” vì gánh đòn tre. Chân bước cao bước thấp, lúc ngả lúc nghiêng, bước đi “thập thững” trong đêm tối, trong gió rét. Bà vất vả và cùng cực. Bà là hiện thân của đức hi sinh, chịu thương chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam, của những cái cò lặn lội trong cuộc đời. Nguyễn Duy đã gửi gắm bao tình thương và hàm ơn đối với bà:

“Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế

Bà mò cua, xúc tép ở đồng Quan

Bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”.

Năm đói, một củ dong riềng luộc sượng bà dành cho cháu. Trong vị ngon ngọt của củ dong riềng, đứa cháu “nghe” được mùi thơm của huệ trắng, của hương trầm. Nguyễn Duy đã lấy mùi thơm của huệ trắng, hương trầm để diễn tả những xúc cảm về tình thương rộng lớn, mênh mông của bà. Bà hiền lành, tâm hồn bà phúc hậu, thánh thiện. Tiên, Phật, thánh soi sáng lòng từ bi, nhân ái nhưng bà hướng tới. Sống trong tình thương ấp ủ của bà, nên đứa cháu mới thấu hiểu được lòng bà, tâm hồn của bà:

“Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực

Giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần”.

Giữa thời khói lửa, bom đạn giội làm nhà bà “bay mất”, đền Sòng cũng “bay”, chùa chiền “bay tuốt cả”,… Khi nhưng “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết” bà vẫn trụ vững giữa cuộc đời, bà vẫn bươn bả kiếm sống, bà vẫn đương đầu với mọi khó khăn lam lũ: “Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”. Đó là một nét vẽ rất thực, rất đậm trong hình tượng về người bà của thi sĩ; và đó cũng là hình ảnh người bà rất thân thiện với mỗi gia đình Việt Nam chúng ta. Đoạn cuối nói lên nỗi xúc động của đứa cháu lúc đứng trước ngôi mộ bà ngoại:

“Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại

Dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi

Khi tôi biết thương bà đã muộn

Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”.

Sự liên kết hài hoà giữa xúc cảm và tính triết lí đã tạo nên sự rung cảm sâu xa của vần thơ. Dòng sông xưa nhưng tác giả nói tới là sông Chu, sông Mã, sông Đò Lèn. Những năm dài chiến tranh tao loạn đã đi qua. Quê hương tổ quốc yên bình, ngày một thay đổi, ngày một tươi đẹp. Câu thơ “dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi” mang hàm nghĩa về cuộc đời bể dâu, về sự thay đổi của quê hương xứ sở.

Câu cuối bài thơ “bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi” cũng mang ý vị triết lí về kiếp người hữu hạn trong dòng chảy vô cùng của thời kì và vũ trụ. Câu thơ của Nguyễn Duy man mác buồn, làm ta liên tưởng tới câu thơ của Nguyễn Gia Thiều trong “Cung oán ngâm khúc”:

“Trăm năm còn có gì đâu

Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì”.

Bà ngoại đã mất, nhưng tình thương và sự tảo tần của bà vẫn còn lại mãi với con cháu.

“Đò Lèn” là một bài thơ rực rỡ của Nguyễn Duy. Cùng với “Bếp lửa” của Bằng Việt, bài thơ “Đò Lèn” của Nguyễn Duy là bông hoa nghệ thuật tô đẹp hình tượng người bà mến yêu trong mỗi gia đình Việt Nam chúng ta. Hơn mười địa danh được thi sĩ nhắc tới đã làm cho ý nghĩa bài thơ thêm đẹp và thâm thúy: tình yêu bà, yêu gia đình gắn liền với tình yêu quê hương tha thiết. “Đò Lèn” là một trang thơ cảm động về kí ức tuổi thơ của người lính.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 3

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng có một nhận xét rất thú vị về thi sĩ Nguyễn Duy như sau: “Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang đó”. Có thể nói thơ Nguyễn Duy khá đặc trưng lúc trong những vần thơ ngang tàn, phóng khoáng và hồn nhiên tưởng như ko chút gì suy nghĩ, nhưng tận sâu bên trong lại là những hàm ý chiêm nghiệm thâm thúy về chính cuộc đời, rất trầm tĩnh và lặng lẽ thấm vào tâm hồn người đọc, rồi đột nhiên vỡ ra khiến người ta phải giật thót suy nghĩ lại về những chặng đường, về tình cảm của bản thân trong suốt những năm tháng đã qua.

Tiêu biểu cho cái lối viết đó phải kể tới tác phẩm Ánh trăng, chiêm nghiệm về tấm lòng dễ thay đổi của con người xấu hổ trước sự thủy chung son sắt của trăng sáng trên cao. Nhưng rồi tới Đò Lèn người ta lại càng thấm thía hơn trong nỗi suy tư với cái vất vả của người bà trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, cùng với tuổi thơ hồn nhiên, chưa biết nghĩ của người cháu. Để rồi lúc lớn lên, lúc cháu đã trưởng thành, đã chinh chiến xa xăm, lúc tổ quốc đã độc lập thì bà cũng chỉ còn một nấm cỏ xanh, người cháu nuối tiếc cũng đã muộn màng.

Nguyễn Duy từng là một người lính thông tin tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, nên trong thơ ông hình tượng người lính cũng thường trở đi trở lại nhiều lần, đặc trưng là trong những đề tài chiến tranh với quê hương tổ quốc. Ở đó ông ko đi tìm những vẻ đẹp hoành tráng, kiêu hùng nhưng thay vào đó Nguyễn Duy lại thường chú ý tới những vẻ đẹp đơn sơ, bình dị, thấm sâu trong từng ký ức tuổi thơ, là nỗi vất vả, cực nhọc trong lao động của những người nông dân trong kháng chiến.

Ở Đò Lèn cũng vậy, cả bài thơ là một miền ký ức có vui vẻ, hồn nhiên nhưng cũng có những ký ức về một thời chiến tranh tàn phá khốc liệt. Tuy nhiên đọc thơ của Nguyễn Duy ko phải để buồn nhưng để suy nghĩ, để chiêm nghiệm, thế nên giọng thơ ông rất thoải mái, đôi chỗ mặc dù thực tiễn vô cùng tàn khốc nhưng ông cũng dùng cái giọng thơ hóm hỉnh để che lấp đi, rồi hướng người ta về một thứ tình cảm khác đó là tình thân. Xuyên suốt Đò Lèn là hồi ức của Nguyễn Duy, trong đó hai khổ thơ đầu là tuổi thơ của tác giả với những năm tháng rong chơi, hồn nhiên rất chân quê mộc mạc.

“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng”

Có thể nói rằng qua hồi ức của Nguyễn Duy, thi sĩ đã có một tuổi thơ rất đẹp, rất đúng nghĩa, ở đó hiện lên hình ảnh một cậu nhỏ tinh nghịch, năng động, rong chơi khắp thôn xóm, vừa “câu cá” vừa “bắt chim”, đôi lúc có cả ‘ăn trộm”, rồi cũng rất ưa chỗ đông người, ưa thích món quà vặt nên mới “níu váy bà đi chợ”. Các địa danh cống Na, chợ Bình Lâm, chùa Trần, đền Cây Thị, đền Sòng hiện lên thật thân thiện và gắn bó chặt chẽ với tuổi thơ của tác giả, mang đậm nét văn hóa làng, xã của Việt Nam – cái đã làm nên Đất Nước theo như phong cách triết luận của Nguyễn Khoa Điềm.

Thêm vào đó, chất thôn quê, dân dã còn hiện lên thông qua những cụ thể về phong tục tập quán rực rỡ của người Việt xưa trong cảnh “xem lễ đền Sòng”, thấm đượm hồn quê với “với điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng”, vương vấn cả mùi nhang trầm linh thiêng, cùng với hương huệ trắng tinh khiết thanh nhã. Cùng với cái cảnh nghèo túng, bình dị, đơn sơ trong cụ thể “chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng” phản ánh tâm hồn trong sáng, thuần phác, hồn nhiên, ngộ nghĩnh của một cậu nhỏ chân quê, đại diện cho cả một làng quê xưa.

Bấy nhiêu đó thôi cũng khiến người ta hoài niệm, tự hào và thêm mến thương những nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc ta. Tuổi thơ Nguyễn Duy tuy nghèo túng, vất vả nhưng tác giả vẫn được rong chơi, tinh nghịch trải nghiệm như thế phần lớn là nhờ sự gánh vác, coi ngó của người bà. Trong tâm tưởng Nguyễn Duy hình ảnh bà ngoại chính là hình ảnh thân thiện, thân thuộc nhất, để mỗi lúc nhắc về thi sĩ lại mang nhiều xúc cảm ngổn ngang, là nối hối hận, xót xa, là nỗi niềm thương bà mình sao khổ cực quá.

“Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”

Nguyễn Duy nhẹ thốt lên đầy hối hận và xót xa “Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế”, điều đó không thể trách bởi với một đứa trẻ đang tuổi ăn, tuổi lớn, sự thơ ngây, hồn nhiên và cái tính ham chơi, tinh nghịch đã ko để cho thi sĩ suy nghĩ được nhiều tới thế, chỉ tới lúc đã lớn, đã chinh chiến xa xôi, Nguyễn Duy mới như bừng tỉnh, giật thót nhớ về dáng người bà năm xưa tảo tần nuôi mình lớn khôn.

Ký ức như một cuốn băng chậm rãi đưa tác giả về những hình ảnh ố vàng vết bụi của thời kì đó là những ngày “bà mò cua xúc tép ở đồng Quan”, những hôm “bà đi gánh chè ở Ba Trại”, gót chân bà “thập thững những đêm hàn” cơ hồ đã nhẵn cả Quán Cháo, Đồng Giao. Hình tượng người bà chính là đại diện cho đức tính hi sinh, chịu thương chịu thương chịu khó, dang đôi vai gầy gồng gánh hết khổ cực, một lòng lòng vì con cháu của người phụ nữ Việt Nam xưa.

Có nhẽ hình ảnh người bà và xúc cảm của Nguyễn Duy trong đoạn thơ này cũng tương đồng với Bằng Việt trong bài thơ Bếp lửa “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà nặng nhọc”, đó là tấm lòng mến thương, kính trọng và nỗi xót xa cho những nặng nhọc nhưng bà ngoại mình đã phải trải qua trong cả cuộc đời, để cho đứa cháu được một tuổi thơ êm đềm hạnh phúc, vô lo vô nghĩ. Trong đôi mắt của Nguyễn Duy tình cảm của bà ngoại dành cho ông thật ấm áp, dịu dàng và thánh khiết vô cùng.

“Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực

giữa bà tôi và tiên phật, thánh thần

cái năm đói củ dong riềng luộc sượng

cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm”

Nguyễn Duy đứng giữa “bờ hư-thực” để nghĩ về bà, dùng tấm lòng trong suốt, tinh tế để cảm nhận về bà và tình cảm của bà, bà luôn dành cho cháu thứ tình cảm nhân hậu, khoan thứ, mến thương vô cùng. Bà nhường cháu “củ dong riềng luộc sượng” trong những năm đói mòn, đói mỏi, cháu ăn vào nhưng như ăn cả tình thương ấm áp, dịu dàng của bà, ôi sao ngon ngọt thế cái tình thương “mùi huệ trắng hương trầm” thiêng liêng, quanh quẩn tràn đầy trong ký ức.

Cái mùi thơm của huệ trắng của nhang trầm đó đã trở đi trở lại hai lần trong bài thơ, như ôm lấy một tuổi thơ nghèo túng nhưng tình cảm của Nguyễn Duy, tựa như tình thương, tựa ánh mắt hiền từ, khoan thứ như tiên phật của bà dõi theo bước chân cháu cả cuộc đời, khiến cháu cứ nhớ mãi, thương mãi.

“Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”

Rồi chiến tranh quét ngang qua thôn xóm, Nguyễn Duy đã dùng một cái chất giọng hóm hỉnh để diễn tả cái cảnh khốc liệt đó, hòng làm cho thơ mình nhẹ nhõm hơn, tha thiết hơn nhưng vẫn khắc sâu vào lòng người đọc với những hình ảnh khốc liệt nhưng bom đạn đã để lại trên xóm làng “nhà bà tôi bay mất/đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền”.

Chỉ một từ “bay” nhẹ thế thôi, nhưng nó đủ để diễn tả được cái cảnh xóm làng bị tàn phá ko còn lại gì, tới cười ra nước mắt với câu thơ rất hồn nhiên “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết”. Tất cả đã đi hết hoặc mất hết thế nhưng vẫn còn bà ngoại, bà vẫn trụ vững hơn cả nhà cửa, chùa chiền, kiêng cường hơn thánh, Phật bà vẫn ở lại đây để mưu sinh, vẫn “đi bán trứng ở ga Lèn”, để nuôi đứa cháu trai còn thơ dại.

Có thể nói chỉ có thứ tình cảm ruột thịt, tấm lòng hi sinh, chịu đựng của người bà, của người phụ nữ Việt Nam mới mạnh mẽ và kiên cố tới vậy, dù cho có là bom đạn, có là mưa sa bão táp, hay gian lao cuộc đời cũng chẳng bao giờ đánh sập được. Một thời ký ức đã qua, lúc cháu đã lớn, đã bước ra chiến trường cháu mới biết thương bóng hình bà nặng nhọc, kiên cường, nhưng trở về thì đợi cháu chỉ còn nấm mộ đã xanh cỏ từ lâu.

Bà mạnh mẽ, kiên cường thế nhưng cũng ko chống đỡ được bước đi của thời kì, lúc cháu đã lớn khôn, đã biết suy nghĩ thì cũng tới lúc ko cần sự bảo bọc chở che của bà nữa. Nguyễn Duy trở về quê hương, tìm về với bà, với những xóm làng thân thuộc thuở thơ ấu, mọi thứ đã thay đổi ít nhiều và bà cũng chẳng ở đó nữa.

“Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi

lúc tôi biết thương bà đã muộn

bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”

Nỗi xúc động nhìn dòng sông xanh lè đại diện cho quê hương, chiến tranh đã qua đi ít lâu, quê hương lại trở về với vẻ yên bình vốn có, cùng với niềm tiếc nuối muộn màng vì ko biết trân trọng, mến thương lúc bà còn ở kế bên nhưng chỉ mải rong chơi. Nay bà đã về với cõi thần tiên, dưới gối Phật tổ, để lại một nấm cỏ xanh khiến tác giả ngậm ngùi, hối hận ko thôi, hối hận về một tuổi thơ quá vô lo vô nghĩ nhưng ko quan tâm mắt bà đã mờ, lưng bà đã mỏi, đôi tay bà cũng trở thành thô sần theo năm tháng.

Khổ thơ cuối của Nguyễn Duy bỗng thức tỉnh tâm hồn người đọc, khiến mỗi chúng ta phải giật thót tự vấn lại bản thân xem liệu mình đã thực sự biết trân trọng, mến thương người thân và những người đang hiện diện kế bên chúng ta chưa. Và mang tới một triết lý nhân sinh vô cùng thâm thúy: “Hãy học cách trân trọng, hàm ơn những gì bạn đang có, trước lúc để thời kì dạy cho bạn biết phải trân trọng những gì bạn đã từng có”.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 4

Những kí ức về tuổi thơ và tình cảm gia đình luôn là những xúc cảm cháy bỏng trong tâm hồn Nguyễn Duy, những xúc cảm này cũng được trình bày rõ nét trong những tác phẩm thơ văn của thi sĩ sau này. Đò lèn là một trong những tác phẩm rực rỡ nhất trong sự nghiệp sáng tác của NGuyễn Duy, bài thơ là những kí ức bên người bà hiền từ, giàu mến thương.

Nguyễn Duy sớm mồ côi mẹ từ nhỏ nên những năm tháng tuổi thơ lớn lên bên bà đã trở thành những miền kí ức đặc trưng luôn da diết, khắc khoải trong tâm hồn thi sĩ. Viết về những kỉ niệm bên bà cùng những tình cảm gắn bó thiêng liêng, bài thơ Đò Lèn chính là tâm tình, tình cảm chân thực nhất của thi sĩ muốn gửi gắm tới người bà của mình. Mở đầu bài thơ, tác giả Nguyễn Duy đã mở ra những kí ước tuổi thơ bên bà:

“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

Níu váy bà đi chợ Bình Lâm

Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

Và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần

Những câu thơ giản dị nhưng đầy thân thiện của Nguyễn Duy như đưa mỗi độc giả trở về với tuổi thơ của chính mình, bởi nó quá đỗi thân thuộc nhưng bất kỳ người nào cũng đã từng trải qua. Do đó nhưng câu thơ tuy giản dị nhưng lại có thể gây ra những xúc động lớn lao tới vậy cho người đọc. Tuổi thơ bên bà của Nguyễn Duy cũng bình dị như bất kỳ đứa trẻ vùng quê nào khác, đó là những lúc bắt cá, theo bà đi chợ hay bắt sẻ chim….

“Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực

Giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần”

Trong dòng kí ức về tuổi thơ, có nhẽ đọng lại sâu đậm nhất, da diết nhất của Nguyễn Duy chính là những kỉ niệm về người bà. Cùng với những trò chơi tuổi thơ, Nguyễn Duy còn nhớ như in những lúc theo bà lên đền Sòng hay lúc nghe cô đồng hát, cảm nhận mùi thơm của hoa huệ cùng với khói trầm. Trong những câu chuyện bà kể, tác giả đã tưởng tượng về người bà hiền từ của mình như Tiên, như Phật. Qua câu thơ người đọc cũng cảm thu được tình cảm mến thương cũng như sự trân trọng của tác giả đối với người bà của mình.

“Bom Mĩ dội, nhà bà tôi bay mất

Đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

Bà tôi bán trứng ở ga Lèn”

Xa bố mẹ từ nhỏ, bà chính là người thân duy nhất bên tác giả, bà ko chỉ vào vai trò của người cha nhưng còn gánh vác vai trò của một người mẹ, người bà. Cuộc sống cùng cực nhưng bà ko lúc nào thôi quan tâm chăm sóc tới đứa cháu nhỏ. Trong cái dữ dội của chiến tranh, bom đạn ko chỉ phá hoại quê hương nhưng còn mang tới những ám ảnh tuổi thơ đầy khốc liệt trong tâm hồn thi sĩ.

“Thánh thần rủ nhau đi đâu hết” sự cảm nhận mơ hồ của thi sĩ lúc bấy giờ lại gợi ra sự xót xa vì quang cảnh thần tiên với cuộc sống hạnh phúc trong những câu chuyện cổ tích dường như đã bị vùi dập bởi chính thực tiễn quá đỗi phũ phàng. Khi đã trưởng thành, đi lính, gánh trách nhiệm bảo vệ tổ quốc, quê hương nhưng trong tâm hồn người cháu đó vẫn ko thôi nhớ về bà:

“Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại

Dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi

Khi tôi biết thương bà thì đã muộn

Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”

Bà đã ra đi và mang theo tất cả những kí ước tuổi thơ tươi đẹp nhất của người cháu, để lúc đã trở thành người lính tình yêu của bà đã trở thành sức mạnh của cháu để cháu cầm súng đấu tranh bảo vệ những gì đẹp tươi nhất của tổ quốc, quê hương. Có nhẽ đây cũng chính là sự tiếp nối sự sống ý nghĩa nhất.

Đò Lèn của Nguyễn Duy trình bày thâm thúy tình cảm của người cháu dành cho bà, đồng thời qua đó hồi ức của thi sĩ cũng đưa chính người đọc về với tuổi thơ của mình để ta trông thấy những trị giá thực thụ của cuộc đời, để biết mến thương và trân trọng hơn.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 5

Kế bên sự thành công của các tác phẩm như: “Cát trắng”, “Ánh trăng”, “Đãi cát tìm vàng”,.. thì bài thơ “Đò Lèn” của Nguyễn Duy cũng đã để lại trong độc giả những ấn tượng thâm thúy. Bài thơ này được ông viết năm 1983, trong một dịp trở về quê hương, sống với những hồi ức đan xen nhiều buồn vui thời thơ ấu.

Nhắc tới tuổi thơ là nhắc tới những hình ảnh đẹp tươi, yên bình nhưng Nguyễn Duy lại nhắc về tuổi thơ của mình với những kỉ niệm trong thời chiến tranh tao loạn:

“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần.”

Tuổi thơ của tác giả là những lần đi câu cá, theo bà đi chợ, bắt chim sẻ, đi ăn trộm nhãn. Không chỉ có vậy, trong tuổi thơ đó tác giả còn được theo bà lên đền Cây Thị, đi xem lễ đền Sòng, đi nghe điệu hát văn của cô đồng. Chúng ta có thể nhận thấy đây là một cậu nhỏ tinh nghịch, vô tư, hồn nhiên và rất hiếu động. Những kí ức tuổi thơ của cậu ko gắn với bè bạn, những đứa trẻ đồng trang lứa nhưng lại gắn bó mật thiết với người bà ngoại.

Nhờ có bà nhưng người cháu biết được những nơi chốn, vị trí tâm linh của con người và đời sống ý thức của họ vô cùng phong phú. Bà và cháu gắn bó với nhau thật mật thiết bởi cậu nhỏ đó luôn đi theo bà dù là đi chợ hay đi lên đền, lên chùa. Chính vì vô tư tương tự nên lúc tác giả trông thấy sự lam lũ của bà cũng là lúc bản thân day dứt trong niềm hối hận:

“Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn.”

Tuổi thơ ham chơi nên cậu đã ko trông thấy được bà đã phải vất vả, tảo tần như thế nào vì cuộc sống mưu sinh. Hết đi mò cua xúc tép bà lại đi gánh chè, bán trứng. Bà đã gánh thêm cả trách nhiệm của người cha, người mẹ để nuôi cậu lớn khôn. Tới đây, tác giả ko còn gợi nhắc tới những trò chơi của tuổi thơ nữa nhưng thay vào đó là hình ảnh kiên cường, sự hi sinh của người bà.

“Tôi trong suốt giữa đôi bờ hư – thực

giữa bà tôi và tiên phật thánh thần

cái năm đói củ dong riềng luộc sượng

cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm”

Tình mến thương của bà thật giống với tiên, Phật, thánh thần, cả luôn hi sinh, chịu những vất vả, cực nhọc để nuôi dưỡng cháu trưởng thành. Dù có gặp phải bao nhiêu khó khăn thì bà vẫn cam chịu, ko lùi bước. Sự khem khổ trong những năm đói phải ăn củ dong riềng luộc sượng nhưng tác giả vẫn nghe thấy đâu đây mùi thơm của huệ trắng, hương trầm. Phcửa ải chăng mùi hương đó là sự ám ảnh của quá khứ, của những ngày cậu đi theo bà lên đền Sòng, đền Cây Thị? Người bà đã chịu nhiều khổ cực nay lại phải kiên cường chống lại sự khốc liệt của trận đấu tranh phi nghĩa:

“Bom Mỹ giội nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn.”

Cuộc sống cùng cực là thế, nhà bà bị bom Mĩ giội bay mất, những nơi linh thiêng phục vụ đời sống ý thức con người nói chung và của bà nói riêng như chùa chiền cũng bay. Người bà lại một mình bươn trải với cuộc sống bằng nghề bán trứng. Còn gì vất vả hơn những khó khăn bà trải qua? Đạn bom ko hủy diệt đi sức sống của bà nhưng nó làm cho bà càng trở thành kiên cường, mạnh mẽ. Sự mạnh mẽ đó chính là sự mạnh lẽ của những con người người hùng, lớn lao. Thời gian thoăn thoắt thoi đưa, chẳng mấy chốc cậu nhỏ năm nào đã trưởng thành:

“Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi

lúc tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.”

Tác giả xót xa, hối hận vì cho tới tận lúc trưởng thành mới thấu hiểu được nỗi cùng cực, sự hi sinh của bà. Khi người cháu muốn báo ơn thì người bà đã ko còn nữa. Khổ thơ là sự đớn đau, xâu xé tới ngậm ngùi vì mất đi một người thân yêu, thân thiện nhất. Khi người cháu đi lính trở về, muốn được nhìn thấy, báo đáp công ơn của bà thì “bà chỉ còn một nấm cỏ thôi”, niềm xúc động đã vỡ òa bật thành tiếng khóc nức nở. Có người nào ko động lòng xúc động, ko nghẹn ngào tiếng nấc trước cảnh tượng đó. Sự hối hận đã trở thành muộn màng, day dứt tâm can tác giả.

Bằng giọng điệu thật tâm, thâm thúy và sự thành công lúc sử dụng phép đối giữa hai bờ hư – thực, giữa bà ngoại với tiên, Phật, thánh, thần và giữa sự hiếu động, vô tư của người cháu với những cùng cực, hi sinh của người bà đã góp phần tạo nên sự thành công của tác phẩm. Nguyễn Duy ko cần mượn một hình ảnh biểu tượng nào trình bày tình cảm với người bà nhưng ông đã trực tiếp biểu lộ tình cảm đó qua hình ảnh người bà lam lũ, tảo tần. Chính điều đó đã để lại những dư vang vang vọng trong lòng độc giả.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 6

Nguyễn Duy là một trong những thi sĩ rất trẻ của nền văn học Việt Nam. Ngay từ lúc còn là học trò phổ thông, Duy đã đoạt giải Nhất cuộc tho thơ báo Văn nghệ. Thơ Nguyễn Duy có sự liên kết hài hòa giữa cái duyên dáng, trưc tình với chất thế sự đậm đặc, nhiều bài là tiếng nói khí khái, bộc trực đầy ngang tàng nhưng trầm tĩnh, giàu chiêm nghiệm và mang ý thức công dân thâm thúy.

Ông là một trong số ko nhiều cây bút hiện nay đã góp phần làm mới thể thơ lục bát bằng những tìm tòi theo hướng hiện đại, tạo nên nét lạ mắt thu hút. Viết về quê hương và tuổi thơ, Nguyễn Duy đã có một tác phẩm chiếm rất nhiều xúc cảm của người đọc: Đò Lèn.

Bài thơ được sáng tác năm 1983, trong một dịp thi sĩ trở về quê hương sống với những kỉ niệm thân quen có nhiều buồn vui của thời thơ ấu. Trong miền ký ức đó, Nguyễn Duy ko thể nào quên được những trò chơi tinh nghịch lúc còn là một đứa trẻ em:

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm
và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng.

Không cần dùng ngôn từ hoa mĩ, tráng lệ, cũng chẳng có chút cầu kì, những kỉ niệm của một thời thơ ấu cứ thế tràn về trên trang thơ của thi sĩ. Chắc hẳn lúc này trong lòng Nguyễn Duy đang bổi hổi lắm, xao xuyến lắm. Ông để cái tôi trực tiếp của mình trong từng câu thơ. Ông muốn tự mình bộc bạch hết tất cả những xúc cảm đang dâng trào trong trái tim. Những kỉ niệm đó rất đơn sơ, rất thật tâm và mộc mạc, mang đậm chất quê hương của vùng nông thôn Việt Nam.

Thuở nhỏ người nào đã từng lụi hụi trốn đi trong những buổi trưa hè ơi ới gọi nhau đi câu cá, người nào từng bám váy bà đi chợ rồi nằng nặc đòi bà sắm cho cái bỏng, cái kẹo, người nào đã từng chèo vắt vẻo trên cành cây sấu cây nhãn bắt tổ chim… Những kỷ niệm hết sức thân yêu và thân thuộc,gợi lại cho người đọc những cảm giác triền miên và như đang được sống lại thời thơ ấu của chính mình.

Bởi trong những kỉ niệm nhưng Nguyễn Duy kể ra ở đây, cũng có nhiều người đã từng trải qua một thời như thế – ngây dại và hồn nhiên. Bởi vậy, tôi đâu biết rằng những gì nhưng bà đang phải gánh chịu mỗi ngày:

Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

Bà của Nguyễn Duy xuất hiện như từ trong câu chuyện cổ tích bước ra. Bà hiền từ, bà giàu tình mến thương vô bờ bến. Bà mò cua xúc tép, bà gánh chè xanh đi bán, cả trong những đêm hàn bà vẫn thập thững bước đi. Dáng dấp nhỏ nhỏ nhưng trái tim bà lớn lao đã lấy đi nước mắt của nhiều người đọc. Bà ko những làm cha nhưng còn làm mẹ nuôi nấng Nguyễn Duy nên người. Để lúc lớn khôn rồi, Nguyễn Duy nhớ về bà nhưng day dứt khôn nguôi. Và cứ thế, những kỉ niệm tuần tự hiện về trong tâm trí thi sĩ.

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực

Giữ bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần

Cái năm đói, củ dong giềng luộc sượng

Cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm

Bom Mĩ giội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bat tuốt cả chùa chiền

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn.

Càng nhớ, xúc cảm của thi sĩ càng dâng trào. Giữa hiện thực nhưng ông thấy mình như đang chìm trong ký ức – nơi có người bà dấu yêu, có những cuộc chơi bời tinh nghịch và quên mất những nỗi vất vả bà đang gồng gánh trên vai. Thế rồi, nạn đói hoành hành, Nguyễn Duy nhớ lại củ dong giềng luộc sượng nhưng vẫn mùi thơm huệ trắng, trầm hương.

Lại thêm vào đó nỗi đau mất nhà mất nước lúc bom Mĩ giội. Giữa những trận mưa bom bão đạn, hình ảnh người bà già nua, nhỏ nhỏ lại xuất hiện với vai trò là người đi bán trứng ở ga Lèn. Vì cuộc sống mưu sinh, vì thằng cháu nhỏ ngây dại, một mình bà chịu đựng hi sinh nắng mưa dãi dầu chỉ mong con lớn khôn từng ngày. Và rồi, những hi sinh của bà cũng tới ngày được báo đáp lúc:

Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi

Tôi lên đường chống lại bọn giặc ngoại xâm đã làm cho bà và bao mảnh đời cùng cực khác phải khổ. Suốt một thời thơ ấu đằng đẵng, lúc tôi đang vui đùa tinh nghịch lại là lúc bà vất vả sớm hôm. Tới giờ phút này lúc trông thấy tất cả, lại lúc lúc bà đã đi xa. Nguyễn Duy chỉ còn biết ngậm ngùi gửi nước mắt vào trang thơ:

lúc tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là một nấm mồ thôi.

Nguyễn Duy cũng thôi ko nhắc tới những ký ức tuổi thơ nữa. Bài thơ khép lại với hình ảnh nấm mồ của người bà mến yêu. Cả một cuộc đời bà đã vất vả gian lao, hi sinh hết mình, thương con thương cháu hết lòng. Bà chẳng ngại những sớm hôm mò cua xúc tép, những ngày đông băng giá thập thững gánh chè đi bán hàng rong. Từ thập thững nghe sao đầy day dứt và thương cảm nhưng tác giả muốn dành cho người bà trong ký ức. Nay bà đã đi xa rổi và tôi cũng lớn khôn rồi, đã trở thành một người lính dũng cảm, sẵn sàng đấu tranh. Hi vọng bà ở nơi xa kia có thể yên lòng nhắm mắt nhắm mũi.

Nguyễn Duy đã mang tới cho người đọc những vần thơ hết sức sống động, giản dị và đầy xúc cảm về miền ký ức ngọt ngào nhưng cũng lắm gian truân của mình với hình ảnh người bà đáng kính, đáng mến. Tác giả ko dùng bất kỳ một giải pháp nghệ thuật nào, tất cả đều hiện lên rất sống động, rất tự nhiên. Đó cũng là tấm lòng của tác giả muốn dành cho người bà mến yêu của mình suốt một đời vất vả hi sinh.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 7

Cuộc sống có những điều được gọi là nỗi nhớ, cứ xa xôi vô hình ; có những hình ảnh được gọi là hoài niệm mãi triền miên, dằng dặc ; và có những tình cảm được gọi là mến thương luôn ấm nồng thâm thúy nhưng thường đi xa rồi người ta mới biết cách gọi tên chúng. Ta gọi chúng như là hoài niệm, là nỗi nhớ, mến thương …

Cuộc đời người ngắn ngủi như chiếc lá, thoáng chốc thôi cũng đủ để măng non chuyển sắc vàng. Người ta lớn lên, bon chen nhau nhưng sống để rồi biết bao lần lại tìm về tuổi thơ trong những nỗi nhớ xa xôi như thế. Với Nguyễn Duy đó lại là cả một toàn cầu của “ Đò Lèn “ – nơi lắng kết những trị giá vĩnh hằng – bài thơ nhưng cái tên thôi đã gợi lên giữa lòng người nhiều suy nghĩ.

Những người đã biết sẽ thấy thân thuộc nhưng những người ko biết lại dễ phân vân: cái gì là “ Đò Lèn “ ? Hai tiếng đó vô tình trở thành một khái niệm khó tưởng tượng trong lúc thực chất nó lại vô cùng giản dị . Nó ko phải là con đò, là dòng sông, bến nước hay cái gì đó chợt nảy ra lúc lần đầu nghe tới. Đò Lèn là tên một miền đất như bao miền đất khác, nơi đã tạo nên tuổi thơ, tạo nên hoài niệm trong bao lớp người xứ Thanh Hóa :

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần

Tuổi thơ được tác giả gợi lên với hình ảnh của bà, với những trò chơi thuở nhỏ.Ở đó có cậu nhóc nào ham chơi mê mải câu cá, có cô nhỏ nào nũng nịu : níu váy bà” ra chợ sắm quà. Cái cống Na và chợ Bình Lâm hẳn đã là cả một thiên đường của thi sĩ. Ông viết nó giản dị và sống động như vừa đem từ cuộc sống vào chứ ko chỉ từ một nỗi nhớ thôi. Nào là đi bắt chim sẻ, rồi đi ăn trộm nhãn của chùa, …, được lang thang trên đồng ruộng, trong những ngôi chùa, khu vườn rộn ràng tiếng chim kêu.

Không gian mở ra rộng lớn và mênh mông thỏa mãn tính hiếu động, ham mê khám phá của tuổi nhỏ, đưa chúng hòa nhập vào tự nhiên, đất trời. Được chơi đùa, được tinh nghịch thoải mái mới thấy hết niềm thích thú vô tận. Đó thật sự là tuổi thơ đúng nghĩa, khác hẳn với ko gian nhỏ nhỏ xung quanh bởi 4 bức tường chật hẹp hiện thời. Ta có thể tưởng tượng ra trước mắt là hình ảnh một cậu nhỏ tinh nghịch, lấm lem nhưng mắt sáng ngời.

Không có quần áo đẹp, ko có búp bê, siêu nhân , những tuổi thơ như thế hôm nay chỉ còn phảng phất trong nỗi nhớ người trưởng thành, trong ánh mắt xa lạ hào hứng của trẻ em lúc xem phim, đọc truyện ngày trước- cái thời của ba, của ông mình. Đoạn thơ như một cuốn phim quay chậm triền miên , dằng dặc trôi đi:

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

Trở về tuổi thơ ta trông thấy niềm hạnh phúc thơ ngây, trong sáng với đôi chân nhỏ nhỏ thoăn thoắt khắp nơi, ru mình trong làn hương và điệu hát. Bàn “chân đất” đã trở thành hình ảnh ko thể nào quên đối với mỗi người, cái cảm giác được trực tiếp chạm chân vào đất mát lạnh tới vô cùng, nó ghi dấu hành trình những đêm lễ xa xôi.

Và cũng như thế, mùi huệ trắng , làn khói trầm, điệu hát văn đã đi vào từ vô thức! Tất cả chúng góp phần tạo nên tuổi thơ đầy hồn nhiên, tinh nghịch trong tâm hồn mỗi người đã đi qua tuổi thơ, nhiều lúc phải xin “ cho tôi một vé đi tuổi thơ “. Từ ngày đó tới hiện thời là cả một quá trình con người lớn lên, tạo nên nhận thức. Ngày còn nhỏ vô tư, vô tư:

Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bàđi gánh chèxanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập những đêm hàn

Bà hiện lên trong cuộc sống của cháu lặng lẽ, lặng thầm… Cái đầu non nớt và trái tim nhỏ dại đâu biết thế nào là nỗi cùng cực, nhìn mọi việc rồi cũng sớm quên đi. Không trách được bởi lẽ trẻ em đâu thể thâm thúy như người lớn nhưng hoặc giả có thâm thúy thì tâm hồn đã chai sạn đi rồi đâu còn là trẻ em với nét thơ dại- cái thơ dại được ấp ủ bằng mồ hôi và nước mắt bà. Mến thương cao thượng tạo điều kiện cho tâm hồn tránh những bão dông. Ngày còn nhỏ, yêu bà là yêu những câu chuyện cổ tích lung linh huyền ảo :

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực

giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần

Bà thổi vào tâm hồn non nớt cái hồn dân tộc bao thế kỉ trong dân gian. Truyện bà kể lung linh sắc màu cổ tích, mang cháu tới với toàn cầu của những phép màu kì diệu: Cô Tấm chui ra từ quả thị, Lọ Lem sánh duyên cùng hoàng tử . Bà có mái tóc bạc phơ, có nụ cười hiền như bà tiên trong truyện kể. Bà dọa cháu rằng chằn tinh rất dữ, bảo cháu phải nghe lời,… Nhiều, và nhiều lắm…

Chính những câu chuyện đã giúp cháu biết yêu cái thiện, ghét điều ác, có ước mơ và kỳ vọng. Thỉnh thoảng, tìm về tuổi thơ là tìm tới những điều tương tự, nghe lòng mình kể lại lời bà ấm áp. Tâm hồn sẽ được thanh lọc và trong sáng hơn. Cái ranh giới hư thực trong suốt như chính tuổi thơ con người vậy. Dễ tin, dễ nhớ và cũng dễ quên.

Lớn lên một tẹo cũng là lúc phải đương đầu với hiện thực , cái đói trở thành nỗi ám ảnh triền miên:

cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng

cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm

Đọc câu thơ ta bỗng nhớ về khoảng thời kì:

Năm đó là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại tới giờ sống mũi còn cay!

Nạn đói những năm 45 nhưmột nỗi kinh hoàng rải khắp tổ quốc. Củ dong, củ riềng cũng thành bạn, sượng sùng nhưng đáng nhớ, đáng thương. Mùi huệ trắng hương trầm cũng phảng phất như cái thoáng trở về bình yên… Những đứa trẻ thơ ngây mơ về một mùi hương đã lắng sâu vào đất, tâm hồn, thân thuộc và rất đỗi bình dị.

Đói kém ko làm mờ đục tấm lòng trong sáng của trẻ thơ nhưng trái lại nó còn gợi nên những mong ước, thiện cảm thầm kín nhưng đáng yêu. Còn lại gì giữa nỗi nhớ cái bình yên ngày trước? Nó có là hoài niệm thương đau, đau xót?

Bom Mỹ giội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

thánh với phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

Quê hương ngày khốc liệt in sâu vào tiềm thức trong khi những hình ảnh sự vật thân thuộc bị tàn phá. Bom đạn ko chỉ phá nát đất quê hương nhưng còn xóa nhòa đi tuổi thơ tươi đẹp. Kế bên ko gian thiên đường thuở nào là đổ nát, hoang tàn. Nhà bà, đền, chùa, tất cả tan biến đi dường như quá nhanh đối với những đứa trẻ chưa kịp lớn hoàn toàn. “ thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết “ lay dậy niềm xót xa, như khẽ chạm vào vết đau nhạy cảm.

Cái boăn khoăn hết sức trẻ em lại là niềm đau trong lòng người hiểu chuyện như bà. Không còn quá thơ ngây, có nhẽ lũ trẻ hôm nào đã hiểu được cái nguyên do đằng sau nó. Nhưng như chưa tin vào chính mình nên mới thành nỗi băn khoăn chưa dám hỏi. Không còn nữa thánh, Phật mơ hồ, huyền diệu, thực tiễn dữ dội đối lập lại hoàn toàn. Còn bà vẫn vậy, lam lũ tháng ngày: “ Bà tôi đi bán trứng ở ga lèn”. Khi lớn lên , con người nhận thức được đầy đủ hơn, làm thành một hành trình trở về man mác:

Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi

lúc tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.

Tình cảm tập trung hướng về bà, con người lam lũ ngập tràn mến thương. Bà nuôi lớn cháu để hôm nay cháu trở về đây chững chàng, tử tế. Cháu đã và đang là một người lính bảo vệ mảnh đất này, bảo vệ những tuổi thơ như cháu ngày xưa. Chút gì là hối tiếc, mến thương muộn màng. Đời người mấy người nào nhưng vẹn tròn tất cả! Con sông kia cũng bên lở bên bồi như người vậy. Bảo rằng đã muộn nhưng chưa bao giờ là quá muộn cả.

Mến thương đâu cần biểu lộ rõ, cháu lớn lên thành người đã là cách thương bà tuyệt diệu nhất. Giờ đây đứng trước mộ bà những vất vả hy sinh ngày xưa càng trở thành thấm thía. Bà đã đi mang theo tất cả những điều đẹp nhất của tuổi thơ cháu bình yên trong nặng nhọc. Mất đi ko phải là kết thúc. Bà ko còn- cháu lớn lên góp sức cho tổ quốc, đó là cách tiếp nối sự sống đầy ý nghĩa. Nấm cỏ của bà chôn chặt mọi niềm đau, giữ lại miền ký ức trong sáng cho con người tìm về lúc mỏi mệt.

Tổ quốc mình có biết bao người bà như thế! Bà là hiện thân cho phụ nữ Việt Nam hiền từ, tảo tần hôm sớm. Những ngày tổ quốc chiến tranh, bà thay cha mẹ nuôi nấng con cháu, giữ cho cháu trọn vẹn một tuổi thơ. Đâu đâu ta cũng nghe nhắc về bà như một hình ảnh thiêng liêng nhất. Người bà đi vào trái tim mỗi người như một lẽ tự nhiên, là miền ký ức vĩnh hằng:

“Tiếng gà trưa

Mang bao nhiêu hạnh phúc

Đêm cháu về nằm mơ

Giấc ngủ hồng sắc trứng.”

Bà, tuổi thơ và những hình ảnh thân thuộc bình dị trong cuộc sống tạo nên trị giá cao đẹp nhất. Đi tìm đâu cái xa xôi trong khi hạnh phúc luôn song hành trong cuộc đời mỗi người. Nó là tình mến thương vô điều kiện, là những tháng ngày vui chơi thỏa thích. Chúng như mảng màu rực rỡ chiếu sáng tâm hồn, hướng con người về chỗ cái đẹp, cái thiện căn: “Nhân chi sơ tính bổn thiện”.

Cùng với bà, quê hương Đò Lèn hiện lên sống động giữa tuổi thơ chan hòa. Nó hiện diện trong cái tinh nghịch thiếu thời, trong từng giấc mơ trẻ thơ, là nơi con người vẫy vùng, ngụp lặn. Mảnh đất lúc yên bình, lúc đớn đau oằn mình vì đạn bom nhưng lúc nào cũng phảng phất hương huệ thơm ngần, cái thứ hương vị đã trở thành đặc trưng tồn tại giữa tiềm thức.

Đò Lèn của cống Na, chùa Trần, con sông 2 bờ bồi lở, cái tên mộc mạc nhưng chân tình thiết tha. Đò Lèn – nơi đó có bà, có cháu, có tất cả hoài niệm mến thương tồn tại vĩnh hằng cùng nỗi nhớ!

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 8

Nguyễn Duy là một cây bút tài hoa, đã từng có những bài thơ nằm lòng nhiều thế hệ như “Tre Việt Nam”; mặc dù tới nay tác giả tuyên bố “Gác bút” nhưng những gì ông để lại cho Văn học Việt Nam vẫn rất mới và ấn tượng. Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài thơ “Đò Lèn” của ông với hơi thơ mộc mạc, phảng phất chất dân gian truyền cảm, màn độc thoại hoài niệm của thi sĩ về bến cũ đã mê hoặc những người nào đọc nó.

Viết về người bà cùng những kí ức tuổi thơ, gắn liền với địa danh, thân thiết của quê hương, trong niềm tiếc thương, hối hận, xót xa muộn màng của người cháu nay đã trưởng thành. Bài thơ ko chỉ bộc lộ tình yêu quê hương tổ quốc, yêu những người thân nhưng đặc trưng còn mang lại trị giá thức tỉnh rất nhân văn.

Tuổi thơ và hồi ức dường như là một niềm xúc cảm đau đáu trong thơ Nguyễn Duy. Trong bài thơ “ánh trăng” ngày thắng lợi trở về thành thị, nhanh chóng thích ứng với cuộc sống đầy đủ tiện nghi vô tình quên lãng quá khứ khó khăn và tình nghĩa như một hình ảnh, một khoảnh khắc tự dưng của ánh trăng soi sáng lúc thành thị mất điện đã bật thức trong anh bao nỗi niềm, khởi đầu là kí ức trong veo của đứa trẻ đồng quê lớn lên với tự nhiên phóng khoáng và tiếc lại niềm xám hối thật tâm còn quá khứ.

Còn ở đây kí ức của một thời tuổi nhỏ được tái tạo qua một anh quân nhân lúc đã trưởng thành, nghĩ về người bà đã mất của mình, tuổi nhỏ đó được tái tạo sống động và xúc động bởi nó chạm tới hồi ức và quan niệm một thời của hầu như hết thảy mọi người. lòng mến thương những người ruột thịt bao giờ cũng là thước đo quan trọng nhất cho lòng nhân ái của con người.

“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần”

Kí ức hiện lên trong tâm tưởng thi sĩ, rất sống động, rưng rưng xúc cảm, vừa riêng tư, vừa thân thiện với mọi người. một cậu nhỏ sống ở làng quê, cuộc sống đó nhiều mộng mơ và bình yên qua cảm nhận của cậu nhưng nó lại rất giản dị và đẹp tươi. Cậu say mê những trò chơi con trẻ: bắt chim, níu váy bà đi chợ, trốn tìm, chỉ với 4 câu thơ nhỏ nhưng đong đầy kỉ niệm của một thời hồn nhiên, tinh nghịch và thơ ngây.

Hình ảnh cậu nhỏ quê vừa có nét gì rất riêng trong hoàn cảnh của thi sĩ vừa khiến người đọc thương yêu bởi sự hồn nhiên, ngồ ngộ của cậu nhỏ, đặc trưng câu mê nhân vật thánh thần như không đền cây thị,…ấn tượng sâu đậm nhất của cậu là hương trầm, hương huệ.

“Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế

bà mò cua, xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn.”

Những địa danh được nhắc tới trong bài thơ: “Đò Lèn, đồng Quan, chè xanh Ba Trại, Quán Cháo, Đồng Giao”. Tưởng chỉ là phép liệt kê đơn giản những miền đất quê hương Thanh Hóa nhưng thi sĩ đã thổi hồn cho nó, khiến hình ảnh thân yêu của quê hương hiện lên mang theo biết bao tình quê và hoài niệm, “đi vào cái nhỏ nhoi đời thường nhưng mang lại cái cao quý”. Kí ức chính là một điều kiện để thấu hiểu và gắn bó, các địa danh được nhắc tới với mật độ dày đặc, nơi nào cũng in dấu những kí ức của tuổi thơ.

Kí ức cũng mang hình bóng người bà đó chính là sợi dây nối quá khứ với hiện, nối những con người hôm nay với những người đã khuất, nối cả tư nhân với cội rễ. Có thể nói đó là sự gợi nhắc nhỏ nhẹ và thấm thía. Trong cảm hứng về cội nguồn, trong nỗi niềm thương nhớ thì có thể nói đây chính là nét đẹp trong xúc cảm thơ Nguyễn Duy:

“Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực

giữa bà tôi và tiên phật thánh thần

cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng

cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm.

Bom Mỹ giội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn!

Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi

lúc tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”

Dù nói về đề tài gì trong cách nhìn mới mẻ của thi sĩ về chính mình là sự hồn nhiên, sống động, ko thi vị hóa hay tô hồng cuộc sống, chính hình đó đã làm cho hình ảnh thơ rất đỗi thân thiện và tạo nhiều xúc động trong lòng độc giả.

Trong vô vàn những kí ức tuổi thơ thì hình ảnh đọng lại với rất nhiều những nỗi niềm, đó là cuộc đời lam lũ, tảo tần, lặng thầm với muôn nghìn vất vả để nuôi dạy đứa cháu hiếu động, tinh nghịch, ta cũng ko thấy gì lạ về những người mẹ, người bà Việt Nam như thế nhưng đi vào thơ Nguyễn Duy lại xúc động lòng người và có sức ám ảnh tới vậy, bởi tính chân thực của đời sống và cái nhìn trìu mến, pha chút xót xa, hối hận của người cháu lúc đã trưởng thành. Cuộc đời thực của bà được thi sĩ gửi lại trong bài thơ.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 9

Trong cuộc đời con người, có nhẽ tuổi thơ là quãng thời kì trong sáng nhất, đẹp nhất. Có những tuổi thơ êm đềm, cũng có những tuổi thơ dữ dội nhưng dù vậy nào, lúc ko thể trở lại, mỗi chúng ta vẫn có những phút giây hoài niệm đầy tiếc nuối. Xuân Quỳnh thương ổ trứng gà của bà, Tế Hanh nhớ con sông quê hương, Bằng Việt trở lại bếp lửa mến thương… và Nguyễn Duy mải miết tìm về một Đò Lèn thuở nghe cổ tích.

Cùng với Tre Việt Nam, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Ánh trăng… Đò Lèn là bài thơ được nhiều độc giả thích thú bởi những xúc cảm mến thương thật tâm nhưng người viết đã phổ một cách tự nhiên trong đó. Bài thơ gồm sáu khổ. Hai khổ thơ đầu là những kí ức về tuổi thơ với những trò chơi ngày nhỏ. Hai khổ tiếp theo là nhận thức và xúc cảm của nhân vật trữ tình về những hi sinh thầm lặng của bà ngoại.

Khổ thơ thứ năm là kí ức về một những ngày bom Mỹ đánh phá toang hoang nhà cửa, chùa chiền. Va khổ cuối cùng là tâm trạng ngậm ngùi của nhân vật tôi lúc bà ngoại ko còn nữa. Xuyên suốt tác phẩm là tình yêu sâu nặng người cháu dành cho bà ngoại. Bài thơ khởi đầu bằng dòng hoài niệm, bằng những hồi ức về thuở xa xăm:

Thuở nhỏ tôi ra Cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

Hai chữ “thuở nhỏ” mở đầu văn bản, được láy lại lần nữa ở khổ thứ hai ko chỉ là dấu mốc thời kì nhưng như còn đong đầy nỗi ngậm ngùi. Chủ thể điểm nhìn trong bài thơ là nhân vật tôi – nhưng ko phải là tôi của thuở nhỏ nhưng là tôi lúc đã lớn khôn, trưởng thành. Đó là lí do những kỉ niệm ùa về rất nhiều nhưng tất cả chỉ được gọi tên vội vã: “câu cá”, “níu váy bà đi chợ”, “bắt chim sẻ”, “ăn trộm nhãn”, “chơi đền Cây Thị” “xem lễ Đền Sòng”.

Những trò chơi của cậu nhỏ nông thôn được liệt kê với mức độ dày đặc. Ngần đó trò cho phép chúng ta tưởng tượng về một chú nhóc tinh nghịch, hiếu động. Điều đáng nói là kỉ niệm của cậu ko gắn với lũ bạn cùng tuổi nhưng luôn vấn vít với bà ngoại. Bà ngoại tôi chỉ xuất hiện duy nhất trong hành động tới chợ Bình Lâm nhưng tưởng như bước chân bà luôn theo đỡ bao kỉ niệm của thằng cháu ngoại.

Trẻ con – nhất là những nhỏ trai – vẫn thích tha thẩn nơi vườn cây, ao cá nhưng điểm tới của nhân vật tôi lại là những đền chùa, chợ búa – nơi các bà cụ thường tới lui. Nguyễn Duy nhắc tới năm địa danh thì trong số đó có tới ba tên chùa, đền. Chùa Trần, đền Sòng, đền Cây Thị, bà tới cũng chính là những nơi cậu nhỏ theo đi, tất nhiên ko phải để thành tâm lễ Phật như bà nhưng để khám phá bao điều kì thú ở đó.

Có thể ngày nhỏ, nhân vật tôi chỉ mải miết với những trò tinh nghịch của mình, thậm chí sẽ bị bà ngoại quở trách vì các hành động “bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật”, “ăn trộm nhãn chùa Trần”. Nhưng rồi tất cả những gì trầm tích trong kí ức lại là “mùi huệ trắng quyện khói trầm” và “điệu hát văn” cùng bóng vía cô đồng trong chùa. Giờ thì ta hiểu vì sao tác giả ko ngừng lại mô tả cụ thể một trò chơi nào.

Mùi hương thanh khiết, trầm tịch chốn thâm nghiêm và điệu hát cô đồng khó hiểu là tất cả những gì choán đầy nỗi nhớ nhân vật trữ tình. Điều phảng phất, thậm chí ko cố tình được trẻ thơ lưu lại trong sự ghi nhớ lại có sức bám đọng mãnh liệt nhất lúc kí ức dội về. Căn nguyên là đâu? Có phải vì nhấp nhoáng trong khói hương thơm ngát và điệu hát văn thuở xưa là bóng vía bà ngoại dấu yêu của nhân vật tôi? Sang khổ thơ tiếp theo tứ thơ có sự chuyển đổi đột ngột. Không còn là các trò tinh nghịch thuở thiếu thời nữa nhưng là nỗi mến thương ko thể nén kìm:

Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

Dòng hoài niệm ko ngừng lại ở những trò chơi thuở nhỏ nhưng được tiếp nối bằng hình ảnh bà ngoại lam lũ, tảo tần. “Tôi đâu biết” – ko hẳn là lời sám hối nhưng đó là lời tự trách đầy tiếc nuối, xót xa của người cháu lúc trưởng thành. Tất cả những gì khuất lấp trong tuổi thơ giờ đã được nhận thức sáng tỏ.

vẫn là thao tác liệt kê nhưng ko phải là trò chơi thuở nhỏ nhưng là bao vất vả, “cùng cực” của bà. Thực ra, mò cua, xúc tép, gánh chè… là những việc thân thuộc của người phụ nữ nông thôn Việt Nam. Nếu người nào đã đọc những câu thơ của Trần Đăng Khoa, chắc sẽ thương lắm dáng bà, dáng mẹ giữa trưa tháng sáu:

Nước như người nào nấu

Chết cả cá cờ

Cua ngoi lên bờ

Mẹ em xuống cấy

Nếu người nào đã đọc Bèn kia sông Đuống của Hoàng cầm, sẽ thấy có sự đồng điệu giữa Hoàng Cầm và Nguyễn Duy trong hình ảnh thơ:

Mẹ già nua gày gò gánh hàng rong

Dăm miếng cau khô

Mấy lọ phẩm hồng

Vài thép giấy đẫm hoen sương sớm

Những “cùng cực” đó lẽ ra ko nên có ở những người bà đã đi qua bao nhọc nhằn trong cuộc sống, ko nên có ở thế hệ lẽ ra phải được thư thả, vui vầy bên con cháu. Một lần nữa Nguyễn Duy cho các địa danh xuất hiện, nhưng đó ko còn là những đền chùa linh thiêng. Ba Trọi, Đồng Quan, Quản Cháo, Đồng Giao là nơi in dấu chân bà ngoại tảo tần sớm hôm.

Không gian tiếp nối ko gian, mở -rộng, kéo dài hành trình lam lũ của bà đồng thời khơi sâu thêm nỗi xa xót trong lòng cháu. Từ láy “thập thững” đựng lên trước mắt người đọc dáng đi ko vững chãi, thậm chí siêu vẹo của người mắt kém đang phải mang gánh nặng trên vai. Cụm từ “những đèm lùm” vừa chỉ thời kì, vừa có trị giá mô tả ko gian. Đêm là thời khắc muộn hơn tối.

Cũng để chỉ cái lạnh nhưng Nguyễn Duy ko viết “đêm lạnh”, “đêm rét” nhưng viết “đêm hàn”. Liên kết từ khôn khéo này mang lại hiệu quả nghệ thuật bất thần. Trong cái lạnh của đêm tối, ta còn cảm thu được cả cái buốt giá của sương đêm. Những cùng cực của bóng vía lầm lụi ko được mô tả cụ thể nhưng vẫn được gợi nên trong suy tưởng người đọc. Đó chẳng phải là những hi sinh lặng thầm sao?

Nhân vật trữ tình dường như ko dám tin vào những điều mình trông thấy, ko dám tin vào những điều thuở nhỏ thơ mình ko cảm thu được. Cảm thức về bà ngoại cùng bao kí ức sâu đậm về những vị Phật tiên đã khiến thi sĩ phân vân:

Tôi trong suốt giữa đôi bờ hư thực

Giữa bà tôi và tiên phật thánh thần

Cái năm đỏi củ dong riềng luộc sượng

Cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm

Có nhẽ đây là khổ thơ hay nhất trong bài. Hay bởi cách nói và xúc động bởi chiều sâu tình cảm. “Trong suốt là tính từ chỉ tính chất sự vật, hiện tượng được Nguyễn Duy đưa vào lời thơ, đảm nhiệm tác dụng của động từ tình thái. Thật khó để gọi tên xác thực xúc cảm của nhân vật trữ tình. Chỉ có thể khẳng định một điều, trạng thái này thân thiện với phút đốn ngộ của các bậc tu hành nhà Phật.

Hình ảnh bà được đặt trong thế đối sánh ngang hàng với tiên phật, thánh thần trình bày lòng ngưỡng mộ, tôn sùng của nhân vật tôi. Phcửa ải thực sự thấm thía, trân trọng công ơn của bà, nhân vật trữ tình mới có được tình cảm thâm thúy, mãnh liệt tới vậy. Tình cảm đó được đặt trong thế đối lập giữa hai ko gian: ko gian trần tục và ko gian tĩnh thổ.

Cảm giác đói bị át đi bởi hương huệ trắng và hương trầm thanh khiết. Lần thứ hai hương thơm đó xuất hiện trong bài thơ. Nhưng lần này nó ko được cảm nhận bằng khứu giác nhưng bằng thính giác. Cái tinh tế của ý thơ chính là ở chỗ này đây. Nếu chỉ là “cứ thoang thoảng” hay “cứ ngửi” thì hương huệ trắng và hương trầm chỉ là thứ hương của ngày nay.

Đấy là chưa kể việc sử dụng từ “ngửi” sẽ làm mất đi ý vị tao nhã của hình ảnh thơ, của lời thơ. Phcửa ải là “nghe” thì mới thấy quá khứ vọng về, thì mới thấy sức ám ảnh của hương thơm quá khứ. Cảm thức về bà luôn gắn với sự thanh nhã, nhân hậu, đức độ. Bà như thần tiên, bà như cổ tích và bà luôn bất tử trong tiềm thức cháu. Khổ thơ thứ tư là bản lề khép lại những kí ức thuở nhỏ và tới gần hơn với mất mát thực tiễn được gợi tả trong khổ thứ năm:

Bom Mỹ giội nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

Chiến tranh với những đau thương mất mát đã đi vào thơ ca và trở thành chủ đề xuyên suốt một thời đại. Mỗi người bước vào chiến tranh và đi ra với những mất mát riêng. Với Nguyễn Duy, đau thương nhất là sự toang hoang, đổ nát của những chùa chiền và ngôi nhà bà ngoại. Nhà thơ đã lựa cách nói để kìm nén những tổn thương ý thức.

Không khắc họa “kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang” như Hoàng Cầm, Nguyễn Duy chỉ nhẹ nhõm kể: “nhà bà tôi bay mất”, “tới Sòng bay”, “bay tuốt cả chùa chiền”. “Bay” thực chất là tan, là đổ nát đấy chứ. Nhưng “bay” cũng là gắn với cảm thức tiên Phật. Nơi bình yên ko còn yên bình nữa. Cái khốc liệt của chiến tranh in dấu ấn cả vào trong đời sống của thần tiên, huống gì con người?

Điểm kết của những kí ức là hình ảnh người bà “đi bán trứng ở ga Lèn mặc cho “bom Mỹ dội”, mặc cho “Thánh với Phật” đã phải rủ nhau đi. Vẫn là sự tảo tần để mưu sinh? Hay sẽ là khởi đầu cho một bất trắc ko lường trước được, một mất mát khôn xiết? Ga Lèn là điểm kết của câu thơ nhưng lại được chọn làm nhan đề cho bài thơ, điều đó chứng tỏ địa danh này gắn với sự kiện quan trọng. Phcửa ải chăng, chính tại nơi đây, những ngày được gắn bó cùng người bà mến yêu của thi sĩ – nhân vật trữ tình cũng hết?

Thời gian trôi bẵng đi, lúc đã trưởng thành, đã trông thấy những hi sinh lớn lao của bà, đã ý thức được tình cảm, trách nhiệm của mình, cũng là lúc nhân vật trữ tình mất bà mãi mãi. Hai câu cuối ko rực rỡ về tứ thơ nhưng gây xúc động trong lòng người đọc. “Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”- lời thơ nghe đầy xót xa, nuối tiếc.

Đò Lèn là bài thơ ko mới về chủ đề nhưng vẫn có sức thu hút đặc trưng nhờ cách diễn tả lạ mắt, nhờ sự phô bày những mến thương thật tâm của người viết. Tình mến thương bà luôn gắn với cảm thức chùa chiền, tiên phật nên mang màu sắc thanh khiết, sáng trong. Hàng loạt những địa danh của quê hương được gọi tên càng tô dậm sự chân thực trong xúc cảm. Đó là những nét riêng, lạ mắt để đọc Đò Lèn, chúng ta ko nhầm với Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh, Bếp lửa của Bằng Việt…

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 10

Trong đời sống văn học, có những bài thơ, câu thơ, lúc ta mới đọc một lần chưa thuộc được, nhưng có cái gì đó nó cứ ám ảnh ta như một “ma lực” đầy thu hút, tâm trí ta ko thể nguôi ngoai được. Bởi lẽ những vần thơ đó đã chạm vào ngõ ngóc sâu kín tâm hồn ta, rung lên cái phần tiềm thức của tình cảm ấp ủ trong ta lâu nay. Cuộc sống bộn bề với những suy tính mưu sinh lắm lúc ko còn thời kì để ta yên ắng, sống lại những kí ức đẹp tươi, những hoài niệm về tuổi thơ…

Thơ Nguyễn Duy đã làm thức dậy trong ta tất cả nét đẹp nhân văn đó. “Nghĩa vụ công dân cao cả nhất của các nhà văn là viết cho hay, đánh thức những phần tốt đẹp nhất của lòng người, tạo điều kiện cho con người được sống nhận định các phần được sống ở trần gian” (Vũ Quần Phương). Thiết nghĩ đấy là thiên chức cao cả, là trách nhiệm lớn nhất của những cây bút tài năng nhưng nặng “tâm” với đời, với người.

Nguyễn Duy tên là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 tại xã Đông Vệ (nay thuộc thành thị Thanh Hóa). Năm 1965, ông tòng ngũ, đấu tranh ở chiến trường nổi tiếng khốc liệt thời chống đế quốc Mĩ như Khe Sanh, đường 9 Nam Lào. Xuất ngũ ông theo học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từ năm 1977 tới nay, ông làm đại diện thường trú của báo Văn nghệ ở phía Nam. Như vậy trước lúc cầm bút Nguyễn Duy đã “cầm súng” với tư cách là một chiến sĩ, theo đúng nghĩa đen của từ láy. Có nhẽ, chính sự từng trải, cuộc thử thách giữa sống và chết, giữa thủy chung và phẫn nộ giúp ông có được cái tâm vững bền và đằm sâu.

Nguyễn Duy có cả một mảng thơ quan trọng dành cho ông trình bày tâm trạng của mình về những người trong gia đình, bằng hữu, anh em, từng để lại kỉ niệm thâm thúy trong đời ông từ thuở thơ dại tới lúc đã luống tuổi. Bài Đò Lèn là một kí ức về bà ngoại trong những năm tháng đầy vất vả, cực nhọc khiến ông vô cùng xúc động và khâm phục.

Khác với bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt viết về người bà nhóm lên bếp lửa ngoài đời và cũng nhóm lên sự ấm áp của tình thương, của hi vọng, nâng bước chân người lính hành quân trên trục đường dài ra trận hoặc trên đường đời, bài Đò Lèn nghiêng về trình bày đúng dáng vẻ người bà với đức hi sinh lặng thầm, nhẫn nại cho tới lúc “bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”. Bài thơ làm cho người đọc càng nghiền ngẫm, nhập tâm càng xúc động tới rơi lệ. Bóng vía người bà như thế trong ta người nào cũng có một phần dù hoàn cảnh sống có không giống nhau.

Bài thơ gồm sáu khổ thơ, tái tạo lại những mẫu kỉ niệm về người bà đã lùi rất xa về thời kì nhưng trong nỗi nhớ thì hiện hình mồn một. Khổ thơ đầu có những cụ thể thật xúc động và dí dỏm:

“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần”

Cứ thế hình ảnh “tôi” và “bà” cùng song hành trên trục đường nỗi nhớ của thi sĩ. Kỉ niệm thật giản dị và chân thực, ko thơ mộng cừ khôi gì cả. Tuổi thơ “ngày hai buổi tới trường”, “bắt chim sẻ”, “ăn trộm nhãn chùa Trần” thật hồn nhiên biết bao nhưng với chúng ta, nó đã trở thành kí ức đẹp tươi nhưng sau này đi xa và lớn lên người nào cũng lưu luyến, nhớ nhung. Lời thơ mộc mạc diễn tả được cái vô tư trong sáng pha chút tinh nghịch đáng yêu của tuổi thơ dại.

Tác giả còn hồn nhiên lắm, thích thú được “níu váy bà đi chợ Bình Lâm”. Hình ảnh bà cháu thật thân thiện, ấm áp và dân dã. Cháu đã nương tựa vào bà để sống, để lớn lên, coi đó như một lẽ tất nhiên. Bước chân tung tẩy theo bà đi chợ để lại dấu ấn của một thời hồn nhiên, trong sáng. Nhà thơ bổi hổi nhớ lại:

“Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng”

Cảm giác của thi sĩ lúc đó như đang sống giữa “hai bờ hư – thực”. Bà là hình ảnh “thực” ở đời còn thánh Phật là của cõi “hư”. Có nhẽ đây là ấn tượng thu hút thi sĩ mạnh nhất nên phần sau còn được nhắc tới nhiều lần. Bà đã hòa nhập vào cái toàn cầu huyền ảo đó, toàn cầu của sự trong sạch và của lòng tốt, đức độ, bao dung. Chữ “thơm lắm” nghe sao nhưng vương vấn ấm áp, đầy quyến rũ. Mùi hương đó khiến nỗi nhớ ko còn mốc thời kì:

“Đất Tây Bắc tháng ngày ko có lịch

Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương”

(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

Kỉ niệm hiện về đầy sức ám ảnh. Nhà thơ sống lại với quá khứ vì nó có sức hút kì lạ, có “bàn chân đất” và có “bóng cô đồng”, có “củ dong riềng luộc sượng”, cũng có “mùi huệ trắng hương trầm”. Vừa cụ thể vừa hư vô. Những đêm sống với đền Sòng Sơn như thế cho tới mãi sau này tác giả vẫn ghi sâu trong sự ghi nhớ bao vóc dáng hình và cả ko khí linh thiêng nhưng người ta hay nhắc tới câu: “Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh”.

Nhang khói nhập nhòa “mờ mờ nhân ảnh”, bóng bà hiện về trong nỗi nhớ, mãnh liệt nhưng bảng lảng như làn sương thu. Cái “thơm lắm” của hương trầm linh thiêng phải chăng còn là cái “thơm lắm” của tâm hồn bà. Những bông huệ trắng trên bàn thờ của bà hôm nay mang mùi hương xưa vời vợi. Đắm mình trong toàn cầu huyền ảo cừ khôi đó thi sĩ “giật thót” trông thấy:

“Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”

Lời thơ có gì ngậm ngùi, xót xa trước kí ức về người bà vật lộn với cuộc sống để mưu sinh cho mình và cho con cháu. Bà “cùng cực” nhưng “tôi đâu biết” vì tác giả còn hồn nhiên, vô tư quá! Lời thơ phảng phất một nỗi sám hối, tự trách mình mặc dù mình ko có lỗi. Nhà thơ gạt đi lớp sương khói để nhìn bà ở phần trần gian cho rõ hơn.

Đó là sự thực diễn ra hàng ngày mỗi sáng mỗi đêm về. Những địa danh cụ thể nhưng tác giả nhắc tới ở khổ thơ trên kéo ta trở về với thực tại một trăm phần trăm. Trong văn học, tái tạo cuộc sống cũng là một cách bộc lộ thái độ, tình cảm. Nguyễn Duy dùng những từ ngữ thật sát với hiện thực để phơi bày cho được những cùng cực của bà. Người đọc rất xúc động trước câu thơ: “Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”.

Chữ “thập thững” gợi lại rất đúng những bước cao, bước thấp, mò mẫm trên trục đường mấp mô nhưng sức khỏe của bà thì ko còn nhiều. Đọc câu thơ thấy cả một sự lẻ loi lặng thầm và gió lạnh từ quá khứ thổi về. Chữ “thập thững” gợi hình nhưng cái chính là gợi cảm, có cái gì tội nghiệp trong đó.

Người cháu nhớ lại và thương bà nhiều lắm! Và còn nhiều lắm những bước chân như thế của bao người bà, người mẹ ta gặp trên đường đời. Bà ko đếm được và ta cũng ko đếm được những bước chân gày gò trong đêm. Trời đất chứng giám cho đức hi sinh của bà và nhắc ta đừng quên.

Hai khổ thơ tiếp theo diễn tả một xúc cảm khác, mặc dù thân thuộc với phần trên: “Tôi trong suốt đời giữa hai bờ hư thực giữa bà tôi và tiên, Phật thánh thần cái năm đói củ dong riềng luộc sượng cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm Bom Mĩ dội – nhà bà tôi bay mất đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”.

Xin hãy đừng vội nhưng cho rằng thi sĩ đã hạ cái “thánh thần” đi để nâng “bà” của mình lên. Như thế e ko được, vì chốn đó bà đã từng cúi mình nhưng mà! Đó là phần thuộc đời sống tâm linh của bà. Vậy những dòng thơ trên nên hiểu theo nghĩa tự sự, tức là sự thực thế nào, thi sĩ kể lại thế đó.

Chùa chiền “bay tuốt” rồi, bà ko còn nơi để đi lễ nữa. Hiện hữu và tâm linh, đời thường hay cừ khôi? Nhà thơ đứng giữa hai miền đất đó, một tẹo phân tâm nhưng rồi cái đọng lại vẫn là hình ảnh người bà với bước chân như ngày nào: “Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”.

Người ta thường nói “Phật tại tâm”. Bà tu tâm chấp thuận thương và đức hi sinh, bằng những bước chân hì hụi trong đêm. Bà đã hóa thân vào tiên, vào Phật tự lúc nào ko hay. Nhưng bà vẫn là bà thôi! “bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”. Câu thơ đọc lên thoạt đầu ta chỉ hiểu là diễn tả việc làm của người bà.

Đơn giản thế thôi nhưng thơ ko chấp nhận sự thưởng thức đơn giản, thô thiển. Đằng sau câu thơ là một bức họa để cháu tặng bà, ghi nhận những năm tháng gian nan để hàm ơn. Câu thơ ko ngừng lại bởi bàn chân bà còn đi và rồi… Bà đi mãi… ko về, để lại trong Nguyễn Duy một nỗi nhớ vời vợi, mênh mông.

Bà đã trở về với đất một cách giản dị, giản dị nhưng cao cả. Đằng sau bàn chân đất và bên trong chiếc áo nâu vá víu là một tâm hồn, một trái tim canh cánh bao nỗi niềm con cháu. Nguyễn Duy ko thêm lời bởi vì tới đây cần một sự lắng đọng để suy ngẫm, chiêm nghiệm – Thơ có kiểu tự sự rất thơ! Đoạn kết trong bài là cả một sự trằn trọc:

“Tôi đi lính… lâu ko về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi

lúc tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”

Cái dấu ba chấm giữa câu thơ đo đếm những bước chân hành quân những đêm ngủ giữa rừng và bao trận đánh, tháng năm. Đời người thì hữu hạn “Nhân sinh ba vạn sáu nghìn thôi” (Nguyễn Công Trứ), bà đã về với tổ tông. Bà đã đi trọn một kiếp người. Hương trầm vẫn tỏa đâu đây chứng giám cho sự thành tâm và khâm phục của cháu với bà. Một tẹo sám hối nữa lại trở đi trở về làm cho Nguyễn Duy lớn thêm lên về tâm hồn và tư tưởng. Độc giả yêu thơ Nguyễn Duy vì cái tài nhưng quan trọng là cái tâm.

Bài thơ khép lại lúc một kiếp người đã khép lại: “bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”. Đọc câu thơ thấy có cái gì yên lặng tới vô cùng. Bà đã ra đi thanh thản bình dị, chìm lẫn vào cỏ xanh. Nhưng đấy là sự kinh dị của vàng ngọc. Mỗi người bà, người mẹ hi sinh cho đời ở những mức độ và lĩnh vực không giống nhau, nhưng giống nhau ở trái tim đầy mến thương.

“Sống trong cái chết vùi trong cát

Những trái tim như ngọc sáng ngời”(Mẹ Tơm – Tố Hữu)

Hai câu cuối trong bài Đò Lèn phảng phất thảm kịch tâm trạng của tác giả. Muốn gửi tới bà một tiếng nói hàm ơn và thương yêu bà nhưng “dạ đài cách mặt khuất lời” (Kiều – Nguyễn Du). Bài thơ kết thúc cũng là lúc nỗi xót xa trỗi dậy trong nỗi niềm của thi nhân.

Để hiểu thêm về tác giả và bài thơ này, ta hãy đọc thêm vài đoạn thơ nhưng Nguyễn Duy dành cho cha mẹ, ông bà. vẫn là lời lẽ mộc mạc, thành thực, ẩn chứa một nỗi buồn sâu lắng:

“Rơm rạ ơi, ta trở về đây

Xin cúi lạy vong linh làng mạc

Bà và mẹ hóa cánh cò cánh vạc

Ông và cha man mác kiếp trâu cày ”(Về đồng)

Có lúc ông liên hệ giữa thơ và đời như để nhắn nhủ mình:

“Ta đi mộng mơ trên trời

Để cha cuốc đất một đời chưa xong”

Ông nhắc nhở mọi người cần biết sống thủy chung với quá khứ:

“Bà nuôi mẹ, mẹ nuôi con

Liệu ngày mai các con còn nhớ ko?

Chân nhang lấm láp tro tàn

Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào”

Trong luồng mạch xúc cảm đó, bài Đò Lèn ẩn chứa sự cúi đầu trước một “vong linh làng mạc”. Có thể xem bài thơ này thay cho một nén nhang nhưng thi sĩ thắp lên để tưởng nhớ bà. Vì thế đọc thơ lên ta thấy câu chữ lúc nào cũng trĩu nặng sự tưởng nhớ, hoài niệm: “Thơ ko chỉ là văn học nhưng chính là ruột gan” (Tố Hữu).

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

.


Thông tin thêm

Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy hay nhất

[rule_3_plain]

Nguyễn Duy là thi sĩ có nhiều tác phẩm rực rỡ trong chương trình văn học phổ thông. Phong cách thơ ông có sự liên kết hài hòa giữa cái duyên dáng trữ tình với chất thế sự đậm đặc. Ông đã góp phần làm mới thể lục bát bằng những tìm tòi theo hướng hiện đại. Bài thơ “Đò Lèn” được sáng tác năm 1983 trong một dịp thi sĩ trở về quê hương, sống với hồi ức đan xen nhiều buồn vui thời thơ ấu. Nhà thơ bộc bạch tấm lòng yêu quý, kính trọng rất mực của người cháu đối với người bà đã mất. Mời các bạn tham khảo một số bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy đã được Thư Viện Hỏi Đáp tổng hợp trong bài viết sau đây.

1

0

1

0

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 1

Nguyễn Duy là một thi sĩ có nhiều đóng góp trong nền thơ ca Việt Nam, bản thân tác giả là một người sớm mồ côi cha mẹ nên xúc cảm của ông về tuổi thơ của mình thật thân thiện và nó gắn bó trong quãng đời của ông, chính vì vậy những xúc cảm đó đã tạo cho ông những nguồn cảm hứng để sáng tác lên bài Đò Lèn.

Trong một lần về thăm lại quê hương những xúc cảm của quê hương lại vọng lại trong kí ức của tác giả, ông nhớ lại những kí ức xưa bên bếp lửa và những hình ảnh khác lúc sống bên người bà của mình, những hình ảnh đó hiện lên trong con người của tác giả có lúc vui có lúc buồn nó đan xen và tạo nên những cung bậc đan xen và thầm kín sâu lắng.

Mở đầu bài thơ tác giả đã nói về nỗi thương nhớ trong tâm hồn của tác giả và hình ảnh đó đã tạo nên những nỗi nhớ da diết và dâng trào trong trái tim của tác giả, hình ảnh đó đã đọng lại trong tim tác giả một cách thâm thúy, hình ảnh trong những dòng thơ đầu thì cậu nhỏ Duy là một người tinh nghịch, với những trò chơi dân gian phổ thông. Lúc thì đi bắt cá lúc thì đi bắt chim sẻ, những hình ảnh đó hiện lên thật sinh động trong con người của tác giả bởi hình ảnh đó hiện lên thật sinh động và ý nghĩa, thú vui của tác giả về kí ức tuổi thơ lúc được chơi những trò chơi đó.

Trong kí ức về tuổi thơ có những hình ảnh về những mùi hoa huệ thơm ngát hương hòa vào cùng mùi hương bay nhấp nhoáng trong vòng ko gian ở chùa Trần, tác giả đã nói lên những nỗi nhớ về khoảng thời kì đã qua của mình, giờ đây lúc tác giả hồi ức lại thì đó chỉ còn là những nỗi thương nhớ, và xen vào các hình ảnh khác đó là một hình ảnh lắng động nhiều xúc cảm và những nỗi nhớ triền miên trong tình yêu tuổi thơ của mình:

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần
Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

Hình ảnh đó đã đan xen trong tâm hồn của tác giả sinh động và thật ngộ nghĩnh nó đang bao trùm lên một khoảng ko gian vô tận và cuốn hút vào những thú vui của dân gian bằng những câu chuyện hay. Và nó đem lại cho tác giả nhiều xúc cảm và những hương vị ngọt ngào về một tuổi thơ của mình.

Các hình ảnh khác cũng được hiện lên đó là những khoảng ko gian yên bình yên tĩnh nơi tác giả đã từng sống, thú vui của tác giả là được hòa nhập và tạo nên những nỗi thương nhớ trong tâm hồn của tác giả. Những nỗi nhớ và hoài niệm đó đã làm cho tác giả nhớ mong và hồi ức lại kí ức tuổi thơ của mình. Toàn bộ những hình ảnh và kí ức của tuổi thơ đã được tác giả mô tả lại để qua đó nói lên những nhịp độ nhẹ nhõm và vô cùng tha thiết.

Nó làm cho mỗi chúng ta đều cảm thấy thương nhớ trong kí ức của mình, hình ảnh về một con người tuổi thơ đã tràn trề trong tâm trí của tác giả. Hàng loạt các hình ảnh khác cũng vô cùng thiêng liêng đã gắn bó với tác giả, sớm mồ côi cha mẹ nên tác giả phải ở cùng với bà ngoại. Hình ảnh gắn bó với người bà cũng đã hiện lên trong kí ức của tác giả:

Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế
Bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
Bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

Những hình ảnh trong kí ức của tác giả về người bà của mình đó là một người bà tảo tần chịu thương chịu thương chịu khó, cả cuộc đời của bà lam lũ vất vả để kiếm tiền nuôi cháu. Dù cuộc sống của hai bà cháu vô cùng cực khổ vất vả nhưng người bà này vẫn lam lũ để có thể nuôi nấng người cháu của mình, hình ảnh đó đã thấm đẫm trong ý thức của người bà.

Trong những ngày gió rét bà vẫn thập thững những bước đi để kiếm tiền nuôi cháu, có lúc mò cua bắt cá nuôi cháu từng ngày. Kí ức về người bà làm cho tác giả nhớ tới những kỉ niệm của hai bà cháu, tác giả mong ước và đang hồi ức lại những thời kì bên bà, hình ảnh về người bà của mình đang lam lũ vất cả từng ngày để kiếm sống nó đã làm cho tác giả có những cái nhìn thâm thúy hơn về chính cuộc đời của bà mình.

Nhiều những cụ thể đã được trình bày thâm thúy qua bài viết qua đó nó trình bày những nỗi thương nhớ và bao cung bậc xúc cảm dâng trào trong tâm hồn của tác giả, tác giả đang nhớ mong và có hồi ức đẹp về người bà của mình, sự tảo tần đó làm giờ đây lúc tác giả thương nhớ lại tác giả có những cảm hứng về những niềm tin và mong ước được đền đáp công ơn nuôi nấng về người bà của mình.

Trong những kí ức đẹp đấy tác giả đang nhớ mong và da diết trong tình cảm của mình đối với người bà, tác giả thương nhớ lại từ những hình ảnh thân thuộc và nó thân thiện trong tâm hồn của con người dường như tác giả đang cố nhớ lại những kí ức đó bởi kí ức đó thật đẹp.
Và nó tạo nên nhiều ấn tượng thâm thúy trong tâm hồn của con người, nhiều hình ảnh đẹp gợi cảm và vô cùng mạnh mẽ nó đã thu hút nhiều sự chú ý và cũng vô cùng thâm thúy của tác giả. Tác giả đang tạo nên những cung bậc khác nhạt nhòa và mang những dấu ấn mạnh mẽ trong tâm hồn tác giả. Vượt qua bao khó khăn và thử thách gian lao của cuộc sống người bà vẫn lặng lẽ và hy sinh cuộc đời của mình cho người cháu để làm nên những điều thật thần kì.

Tác giả đã tưởng tượng nhiều hình ảnh khác cũng sinh động và thu hút hơn, nó mang đậm nét những yếu tố thần kì và cũng mang đậm những nét tiêu biểu cho những thế hệ khác:

Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn
Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi
lúc tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!

Xúc cảm của thi sĩ đã được trình bày chân thực và nó mang những dấu ấn trong tâm hồn của tác giả, ông dường như đang nói về những kí ức đó để hồi ức và thương nhớ có chút tiếc nuối về quãng thời kì đã qua của mình, hình ảnh xảy ra đã mang nhiều tiếc nuối trong tâm hồn của tác giả. Ông đang rung động và có những nỗi thương nhớ thâm thúy về kí ức tuổi thơ của mình, hàng loạt những hình ảnh khác cũng sinh động và vô cùng thu hút nó tạo nên những cung bậc riêng và giàu xúc cảm trong lòng tác giả.

Một trong những nỗi thương nhớ thầm kín và thâm thúy đó là nỗi nhớ về một quãng thời kì đã qua chúng ta ko người nào ko từng có kí ức tuổi thơ. Vậy nhưng tác giả đã vẽ lại để mỗi chúng ta có những khoảng thời kì riêng để nghĩ về những kí ức và nhiều kỉ niệm vui tới vậy. Hình ảnh về người bà và hàng loạt những hình ảnh gắn với tuổi thơ của tác giả đã được tác giả trình bày nó một cách cụ thể và sinh động hơn nó đã mang đậm và có những dấu ấn mạnh mẽ trong tâm hồn của tác giả, những nỗi nhớ mong đó đã khắc sâu trong tâm trí của mỗi người.

Những lời sám hối và tiếc nuối về những khoảng thời kì đã qua đã được trình bày thâm thúy trong tâm hồn của tác giả. Ông dường như đang tiếc nuối về những khoảng thời kì đã qua, nhiều hình ảnh khác cũng trình bày được điều đó, những hình ảnh sinh động và hàng loạt những cụ thể gợi hình gợi cảm đã được trình bày thâm thúy trong bài thơ. Mỗi chúng ta đều có quyền tự hào về kí ức của mình, nhưng chúng ta chắc hẳn cũng có những phút tiếc nuối về những gì đã qua đi.

Những điều tác giả đã tiếc nuối trong khổ thơ này đó là những gì đã qua nhưng tác giả ko làm được hình ảnh của những kí ức tuổi thơ đã vang vọng trong tâm hồn của người một cách mạnh mẽ nó đang cuốn hút và tạo nên nhiều khoảng ko gian riêng và bao trùm sâu lắng lên tâm hồn của người.

Những kí ức đó tác giả đang tiếc nuối vì chưa có dịp báo đáp công ơn nuôi dưỡng của bà, hình ảnh đó trình bày những thương nhớ, lúc giờ đây bà chỉ còn là nấm mồ tác giả đau xót và sám hối về lương tâm của mình, tác giả muốn nhắn nhủ chúng ta hãy sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc ở phút giây ngày nay và sống với hiện thực và đó là những điều nhưng lúc qua đi chúng ta ko thấy tiếc nuối nữa.

Tình bà cháu đã trình bày thâm thúy trong tác phẩm này đó là những lời ngọt ngào và sâu lắng từ trong trái tim của tác giả.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

(adsbygoogle = window.adsbygoogle || []).push({});

2

0

2

0

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 2

Nguyễn Duy viết bài thơ “Đò Lèn” vào tháng 9 năm 1983, in trong tập thơ “Ánh trăng”, xuất bản năm 1984. Bài thơ có hai câu thơ bảy tiếng, một câu thơ chín tiếng, còn lại 32 câu thơ tám tiếng.
Các dòng thơ tiếp nối xuất hiện như giọng kể tâm tình. Các địa danh thân thuộc của quê hương thân yêu từng gắn bó với tâm hồn của tác giả thời thơ nhỏ, từng in dấu chân, hơi thở, nhịp sống của bà được nhắc lại xiết bao nỗi ân tình: Đò Lèn, cống Na, chợ Bình Lâm, chùa Trần, đền Cây Thị, đền Sòng, Ba Trại,… Hình ảnh người bà nghèo khổ, tảo tần, phúc hậu… được tái tạo trong những vần thơ bình dị có một sức ám ảnh và cuốn hút kì lạ. Nguyễn Duy mồ côi mẹ, sống trong sự tỷ mỉ mến thương của bà ngoại, nên lời thơ mới chân thực và cảm động tương tự. Càng về cuối, giọng thơ càng ngậm ngùi thương nhớ bà.
Hai khổ thơ đầu tác giả nhắc lại những kỉ niệm tuổi thơ của một chú nhỏ nhà nghèo, thích chơi bời lêu têu, tinh nghịch… chẳng kém người nào: đi câu cá ở cống Na, theo bà đi chợ Bình Lâm, đi bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật, cũng có “đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần”. Có những câu thơ giản dị, bình dị như lời nói nhưng gợi lên nhiều rung động về cái hồn nhiên, ngộ nghĩnh của một cậu nhỏ nơi làng quê trước đây:
“níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần”.Cũng đã từng “lên chơi đền Cây Thị”. Với đôi chân đất của con nhà nghèo, vẫn hào hứng trong mùa lễ hội, vẫn “đi đêm xem lễ đền Sòng”. “Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh” (Tản Đà), giáp ranh với tỉnh Ninh Bình thế nhưng chú nhỏ vẫn lặn lội đất đi đêm xem lễ đền Sòng”. Hoa huệ trắng, khói trầm, điệu hát văn và bóng cô đồng “lảo đảo” đã in sâu vào tâm hồn tuổi thơ của Nguyễn Duy:
“mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng”.Từ láy “lảo đảo” là cái thần của bức tranh về cô đồng nhưng chúng ta thường nhìn thấy ở một số lễ hội dân gian. Nguyễn Duy thường nhắc tới hoa huệ với màu trắng và mùi thơm bằng tất cả sự thanh khiết của tâm hồn mình. Hoa huệ trên bàn thờ mẹ:
“Lần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn”.
(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa)
Trong bài thơ “Đò Lèn”, ông cũng hai lần nhắc tới:
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm…
cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm…
Sức cuốn hút, ám ảnh của bài thơ “Đò Lèn” là ở hình tượng người bà. Đó là bà ngoại của Nguyễn Duy. Hối hận, khẽ trách mình vô tâm, vô tình: “Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế”. Nhà nghèo, bà lặn lội “mò cua xúc tép” ở Đồng Quan để có tiền sắm gạo nuôi cháu. Bà đi gánh thuê chè xanh Ba Trại, gánh nặng, đường xa và mấp mô, đêm tối và gió rét, đôi chân bà “thập thững” bước đi. Đôi vai “chín dạn” vì gánh đòn tre. Chân bước cao bước thấp, lúc ngả lúc nghiêng, bước đi “thập thững” trong đêm tối, trong gió rét. Bà vất vả và cùng cực. Bà là hiện thân của đức hi sinh, chịu thương chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam, của những cái cò lặn lội trong cuộc đời. Nguyễn Duy đã gửi gắm bao tình thương và hàm ơn đối với bà:
“Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế
Bà mò cua, xúc tép ở đồng Quan
Bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”.
Năm đói, một củ dong riềng luộc sượng bà dành cho cháu. Trong vị ngon ngọt của củ dong riềng, đứa cháu “nghe” được mùi thơm của huệ trắng, của hương trầm. Nguyễn Duy đã lấy mùi thơm của huệ trắng, hương trầm để diễn tả những xúc cảm về tình thương rộng lớn, mênh mông của bà. Bà hiền lành, tâm hồn bà phúc hậu, thánh thiện. Tiên, Phật, thánh soi sáng lòng từ bi, nhân ái nhưng bà hướng tới. Sống trong tình thương ấp ủ của bà, nên đứa cháu mới thấu hiểu được lòng bà, tâm hồn của bà:
“Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực
Giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần”.
Giữa thời khói lửa, bom đạn giội làm nhà bà “bay mất”, đền Sòng cũng “bay”, chùa chiền “bay tuốt cả”,… Khi nhưng “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết” bà vẫn trụ vững giữa cuộc đời, bà vẫn bươn bả kiếm sống, bà vẫn đương đầu với mọi khó khăn lam lũ: “Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”. Đó là một nét vẽ rất thực, rất đậm trong hình tượng về người bà của thi sĩ; và đó cũng là hình ảnh người bà rất thân thiện với mỗi gia đình Việt Nam chúng ta. Đoạn cuối nói lên nỗi xúc động của đứa cháu lúc đứng trước ngôi mộ bà ngoại:

“Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại
Dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi
Khi tôi biết thương bà đã muộn
Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”.
Sự liên kết hài hoà giữa xúc cảm và tính triết lí đã tạo nên sự rung cảm sâu xa của vần thơ. Dòng sông xưa nhưng tác giả nói tới là sông Chu, sông Mã, sông Đò Lèn. Những năm dài chiến tranh tao loạn đã đi qua. Quê hương tổ quốc yên bình, ngày một thay đổi, ngày một tươi đẹp. Câu thơ “dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi” mang hàm nghĩa về cuộc đời bể dâu, về sự thay đổi của quê hương xứ sở.
Câu cuối bài thơ “bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi” cũng mang ý vị triết lí về kiếp người hữu hạn trong dòng chảy vô cùng của thời kì và vũ trụ. Câu thơ của Nguyễn Duy man mác buồn, làm ta liên tưởng tới câu thơ của Nguyễn Gia Thiều trong “Cung oán ngâm khúc”:
“Trăm năm còn có gì đâu
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì”.
Bà ngoại đã mất, nhưng tình thương và sự tảo tần của bà vẫn còn lại mãi với con cháu. “Đò Lèn” là một bài thơ rực rỡ của Nguyễn Duy. Cùng với “Bếp lửa” của Bằng Việt, bài thơ “Đò Lèn” của Nguyễn Duy là bông hoa nghệ thuật tô đẹp hình tượng người bà mến yêu trong mỗi gia đình Việt Nam chúng ta. Hơn mười địa danh được thi sĩ nhắc tới đã làm cho ý nghĩa bài thơ thêm đẹp và thâm thúy: tình yêu bà, yêu gia đình gắn liền với tình yêu quê hương tha thiết. “Đò Lèn” là một trang thơ cảm động về kí ức tuổi thơ của người lính.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3

0

3

0

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 3

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng có một nhận xét rất thú vị về thi sĩ Nguyễn Duy như sau: “Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang đó”. Có thể nói thơ Nguyễn Duy khá đặc trưng lúc trong những vần thơ ngang tàn, phóng khoáng và hồn nhiên tưởng như ko chút gì suy nghĩ, nhưng tận sâu bên trong lại là những hàm ý chiêm nghiệm thâm thúy về chính cuộc đời, rất trầm tĩnh và lặng lẽ thấm vào tâm hồn người đọc, rồi đột nhiên vỡ ra khiến người ta phải giật thót suy nghĩ lại về những chặng đường, về tình cảm của bản thân trong suốt những năm tháng đã qua. Tiêu biểu cho cái lối viết đó phải kể tới tác phẩm Ánh trăng, chiêm nghiệm về tấm lòng dễ thay đổi của con người xấu hổ trước sự thủy chung son sắt của trăng sáng trên cao. Nhưng rồi tới Đò Lèn người ta lại càng thấm thía hơn trong nỗi suy tư với cái vất vả của người bà trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, cùng với tuổi thơ hồn nhiên, chưa biết nghĩ của người cháu. Để rồi lúc lớn lên, lúc cháu đã trưởng thành, đã chinh chiến xa xăm, lúc tổ quốc đã độc lập thì bà cũng chỉ còn một nấm cỏ xanh, người cháu nuối tiếc cũng đã muộn màng.
Nguyễn Duy từng là một người lính thông tin tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, nên trong thơ ông hình tượng người lính cũng thường trở đi trở lại nhiều lần, đặc trưng là trong những đề tài chiến tranh với quê hương tổ quốc. Ở đó ông ko đi tìm những vẻ đẹp hoành tráng, kiêu hùng nhưng thay vào đó Nguyễn Duy lại thường chú ý tới những vẻ đẹp đơn sơ, bình dị, thấm sâu trong từng ký ức tuổi thơ, là nỗi vất vả, cực nhọc trong lao động của những người nông dân trong kháng chiến. Ở Đò Lèn cũng vậy, cả bài thơ là một miền ký ức có vui vẻ, hồn nhiên nhưng cũng có những ký ức về một thời chiến tranh tàn phá khốc liệt. Tuy nhiên đọc thơ của Nguyễn Duy ko phải để buồn nhưng để suy nghĩ, để chiêm nghiệm, thế nên giọng thơ ông rất thoải mái, đôi chỗ mặc dù thực tiễn vô cùng tàn khốc nhưng ông cũng dùng cái giọng thơ hóm hỉnh để che lấp đi, rồi hướng người ta về một thứ tình cảm khác đó là tình thân. Xuyên suốt Đò Lèn là hồi ức của Nguyễn Duy, trong đó hai khổ thơ đầu là tuổi thơ của tác giả với những năm tháng rong chơi, hồn nhiên rất chân quê mộc mạc.
“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng”
Có thể nói rằng qua hồi ức của Nguyễn Duy, thi sĩ đã có một tuổi thơ rất đẹp, rất đúng nghĩa, ở đó hiện lên hình ảnh một cậu nhỏ tinh nghịch, năng động, rong chơi khắp thôn xóm, vừa “câu cá” vừa “bắt chim”, đôi lúc có cả ‘ăn trộm”, rồi cũng rất ưa chỗ đông người, ưa thích món quà vặt nên mới “níu váy bà đi chợ”. Các địa danh cống Na, chợ Bình Lâm, chùa Trần, đền Cây Thị, đền Sòng hiện lên thật thân thiện và gắn bó chặt chẽ với tuổi thơ của tác giả, mang đậm nét văn hóa làng, xã của Việt Nam – cái đã làm nên Đất Nước theo như phong cách triết luận của Nguyễn Khoa Điềm. Thêm vào đó, chất thôn quê, dân dã còn hiện lên thông qua những cụ thể về phong tục tập quán rực rỡ của người Việt xưa trong cảnh “xem lễ đền Sòng”, thấm đượm hồn quê với “với điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng”, vương vấn cả mùi nhang trầm linh thiêng, cùng với hương huệ trắng tinh khiết thanh nhã. Cùng với cái cảnh nghèo túng, bình dị, đơn sơ trong cụ thể “chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng” phản ánh tâm hồn trong sáng, thuần phác, hồn nhiên, ngộ nghĩnh của một cậu nhỏ chân quê, đại diện cho cả một làng quê xưa. Bấy nhiêu đó thôi cũng khiến người ta hoài niệm, tự hào và thêm mến thương những nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc ta. Tuổi thơ Nguyễn Duy tuy nghèo túng, vất vả nhưng tác giả vẫn được rong chơi, tinh nghịch trải nghiệm như thế phần lớn là nhờ sự gánh vác, coi ngó của người bà. Trong tâm tưởng Nguyễn Duy hình ảnh bà ngoại chính là hình ảnh thân thiện, thân thuộc nhất, để mỗi lúc nhắc về thi sĩ lại mang nhiều xúc cảm ngổn ngang, là nối hối hận, xót xa, là nỗi niềm thương bà mình sao khổ cực quá.
“Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế bà mò cua xúc tép ở đồng Quan bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”
Nguyễn Duy nhẹ thốt lên đầy hối hận và xót xa “Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế”, điều đó không thể trách bởi với một đứa trẻ đang tuổi ăn, tuổi lớn, sự thơ ngây, hồn nhiên và cái tính ham chơi, tinh nghịch đã ko để cho thi sĩ suy nghĩ được nhiều tới thế, chỉ tới lúc đã lớn, đã chinh chiến xa xôi, Nguyễn Duy mới như bừng tỉnh, giật thót nhớ về dáng người bà năm xưa tảo tần nuôi mình lớn khôn. Ký ức như một cuốn băng chậm rãi đưa tác giả về những hình ảnh ố vàng vết bụi của thời kì đó là những ngày “bà mò cua xúc tép ở đồng Quan”, những hôm “bà đi gánh chè ở Ba Trại”, gót chân bà “thập thững những đêm hàn” cơ hồ đã nhẵn cả Quán Cháo, Đồng Giao. Hình tượng người bà chính là đại diện cho đức tính hi sinh, chịu thương chịu thương chịu khó, dang đôi vai gầy gồng gánh hết khổ cực, một lòng lòng vì con cháu của người phụ nữ Việt Nam xưa. Có nhẽ hình ảnh người bà và xúc cảm của Nguyễn Duy trong đoạn thơ này cũng tương đồng với Bằng Việt trong bài thơ Bếp lửa “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà nặng nhọc”, đó là tấm lòng mến thương, kính trọng và nỗi xót xa cho những nặng nhọc nhưng bà ngoại mình đã phải trải qua trong cả cuộc đời, để cho đứa cháu được một tuổi thơ êm đềm hạnh phúc, vô lo vô nghĩ. Trong đôi mắt của Nguyễn Duy tình cảm của bà ngoại dành cho ông thật ấm áp, dịu dàng và thánh khiết vô cùng.
“Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực giữa bà tôi và tiên phật, thánh thần cái năm đói củ dong riềng luộc sượng cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm”
Nguyễn Duy đứng giữa “bờ hư-thực” để nghĩ về bà, dùng tấm lòng trong suốt, tinh tế để cảm nhận về bà và tình cảm của bà, bà luôn dành cho cháu thứ tình cảm nhân hậu, khoan thứ, mến thương vô cùng. Bà nhường cháu “củ dong riềng luộc sượng” trong những năm đói mòn, đói mỏi, cháu ăn vào nhưng như ăn cả tình thương ấm áp, dịu dàng của bà, ôi sao ngon ngọt thế cái tình thương “mùi huệ trắng hương trầm” thiêng liêng, quanh quẩn tràn đầy trong ký ức. Cái mùi thơm của huệ trắng của nhang trầm đó đã trở đi trở lại hai lần trong bài thơ, như ôm lấy một tuổi thơ nghèo túng nhưng tình cảm của Nguyễn Duy, tựa như tình thương, tựa ánh mắt hiền từ, khoan thứ như tiên phật của bà dõi theo bước chân cháu cả cuộc đời, khiến cháu cứ nhớ mãi, thương mãi.
“Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”
Rồi chiến tranh quét ngang qua thôn xóm, Nguyễn Duy đã dùng một cái chất giọng hóm hỉnh để diễn tả cái cảnh khốc liệt đó, hòng làm cho thơ mình nhẹ nhõm hơn, tha thiết hơn nhưng vẫn khắc sâu vào lòng người đọc với những hình ảnh khốc liệt nhưng bom đạn đã để lại trên xóm làng “nhà bà tôi bay mất/đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền”. Chỉ một từ “bay” nhẹ thế thôi, nhưng nó đủ để diễn tả được cái cảnh xóm làng bị tàn phá ko còn lại gì, tới cười ra nước mắt với câu thơ rất hồn nhiên “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết”. Tất cả đã đi hết hoặc mất hết thế nhưng vẫn còn bà ngoại, bà vẫn trụ vững hơn cả nhà cửa, chùa chiền, kiêng cường hơn thánh, Phật bà vẫn ở lại đây để mưu sinh, vẫn “đi bán trứng ở ga Lèn”, để nuôi đứa cháu trai còn thơ dại. Có thể nói chỉ có thứ tình cảm ruột thịt, tấm lòng hi sinh, chịu đựng của người bà, của người phụ nữ Việt Nam mới mạnh mẽ và kiên cố tới vậy, dù cho có là bom đạn, có là mưa sa bão táp, hay gian lao cuộc đời cũng chẳng bao giờ đánh sập được. Một thời ký ức đã qua, lúc cháu đã lớn, đã bước ra chiến trường cháu mới biết thương bóng hình bà nặng nhọc, kiên cường, nhưng trở về thì đợi cháu chỉ còn nấm mộ đã xanh cỏ từ lâu. Bà mạnh mẽ, kiên cường thế nhưng cũng ko chống đỡ được bước đi của thời kì, lúc cháu đã lớn khôn, đã biết suy nghĩ thì cũng tới lúc ko cần sự bảo bọc chở che của bà nữa. Nguyễn Duy trở về quê hương, tìm về với bà, với những xóm làng thân thuộc thuở thơ ấu, mọi thứ đã thay đổi ít nhiều và bà cũng chẳng ở đó nữa.

“Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi lúc tôi biết thương bà đã muộn bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”
Nỗi xúc động nhìn dòng sông xanh lè đại diện cho quê hương, chiến tranh đã qua đi ít lâu, quê hương lại trở về với vẻ yên bình vốn có, cùng với niềm tiếc nuối muộn màng vì ko biết trân trọng, mến thương lúc bà còn ở kế bên nhưng chỉ mải rong chơi. Nay bà đã về với cõi thần tiên, dưới gối Phật tổ, để lại một nấm cỏ xanh khiến tác giả ngậm ngùi, hối hận ko thôi, hối hận về một tuổi thơ quá vô lo vô nghĩ nhưng ko quan tâm mắt bà đã mờ, lưng bà đã mỏi, đôi tay bà cũng trở thành thô sần theo năm tháng. Khổ thơ cuối của Nguyễn Duy bỗng thức tỉnh tâm hồn người đọc, khiến mỗi chúng ta phải giật thót tự vấn lại bản thân xem liệu mình đã thực sự biết trân trọng, mến thương người thân và những người đang hiện diện kế bên chúng ta chưa. Và mang tới một triết lý nhân sinh vô cùng thâm thúy: “Hãy học cách trân trọng, hàm ơn những gì bạn đang có, trước lúc để thời kì dạy cho bạn biết phải trân trọng những gì bạn đã từng có”.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4

0

4

0

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 4

Những kí ức về tuổi thơ và tình cảm gia đình luôn là những xúc cảm cháy bỏng trong tâm hồn Nguyễn Duy, những xúc cảm này cũng được trình bày rõ nét trong những tác phẩm thơ văn của thi sĩ sau này. Đò lèn là một trong những tác phẩm rực rỡ nhất trong sự nghiệp sáng tác của NGuyễn Duy, bài thơ là những kí ức bên người bà hiền từ, giàu mến thương.
Nguyễn Duy sớm mồ côi mẹ từ nhỏ nên những năm tháng tuổi thơ lớn lên bên bà đã trở thành những miền kí ức đặc trưng luôn da diết, khắc khoải trong tâm hồn thi sĩ. Viết về những kỉ niệm bên bà cùng những tình cảm gắn bó thiêng liêng, bài thơ Đò Lèn chính là tâm tình, tình cảm chân thực nhất của thi sĩ muốn gửi gắm tới người bà của mình. Mở đầu bài thơ, tác giả Nguyễn Duy đã mở ra những kí ước tuổi thơ bên bà:

“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
Níu váy bà đi chợ Bình Lâm
Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
Và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần

Những câu thơ giản dị nhưng đầy thân thiện của Nguyễn Duy như đưa mỗi độc giả trở về với tuổi thơ của chính mình, bởi nó quá đỗi thân thuộc nhưng bất kỳ người nào cũng đã từng trải qua. Do đó nhưng câu thơ tuy giản dị nhưng lại có thể gây ra những xúc động lớn lao tới vậy cho người đọc. Tuổi thơ bên bà của Nguyễn Duy cũng bình dị như bất kỳ đứa trẻ vùng quê nào khác, đó là những lúc bắt cá, theo bà đi chợ hay bắt sẻ chim….
“Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực
Giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần”
Trong dòng kí ức về tuổi thơ, có nhẽ đọng lại sâu đậm nhất, da diết nhất của Nguyễn Duy chính là những kỉ niệm về người bà. Cùng với những trò chơi tuổi thơ, Nguyễn Duy còn nhớ như in những lúc theo bà lên đền Sòng hay lúc nghe cô đồng hát, cảm nhận mùi thơm của hoa huệ cùng với khói trầm. Trong những câu chuyện bà kể, tác giả đã tưởng tượng về người bà hiền từ của mình như Tiên, như Phật. Qua câu thơ người đọc cũng cảm thu được tình cảm mến thương cũng như sự trân trọng của tác giả đối với người bà của mình.
“Bom Mĩ dội, nhà bà tôi bay mất
Đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

Bà tôi bán trứng ở ga Lèn”
Xa bố mẹ từ nhỏ, bà chính là người thân duy nhất bên tác giả, bà ko chỉ vào vai trò của người cha nhưng còn gánh vác vai trò của một người mẹ, người bà. Cuộc sống cùng cực nhưng bà ko lúc nào thôi quan tâm chăm sóc tới đứa cháu nhỏ. Trong cái dữ dội của chiến tranh, bom đạn ko chỉ phá hoại quê hương nhưng còn mang tới những ám ảnh tuổi thơ đầy khốc liệt trong tâm hồn thi sĩ. “Thánh thần rủ nhau đi đâu hết” sự cảm nhận mơ hồ của thi sĩ lúc bấy giờ lại gợi ra sự xót xa vì quang cảnh thần tiên với cuộc sống hạnh phúc trong những câu chuyện cổ tích dường như đã bị vùi dập bởi chính thực tiễn quá đỗi phũ phàng. Khi đã trưởng thành, đi lính, gánh trách nhiệm bảo vệ tổ quốc, quê hương nhưng trong tâm hồn người cháu đó vẫn ko thôi nhớ về bà:

“Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại
Dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
Khi tôi biết thương bà thì đã muộn
Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”
Bà đã ra đi và mang theo tất cả những kí ước tuổi thơ tươi đẹp nhất của người cháu, để lúc đã trở thành người lính tình yêu của bà đã trở thành sức mạnh của cháu để cháu cầm súng đấu tranh bảo vệ những gì đẹp tươi nhất của tổ quốc, quê hương. Có nhẽ đây cũng chính là sự tiếp nối sự sống ý nghĩa nhất.
Đò Lèn của Nguyễn Duy trình bày thâm thúy tình cảm của người cháu dành cho bà, đồng thời qua đó hồi ức của thi sĩ cũng đưa chính người đọc về với tuổi thơ của mình để ta trông thấy những trị giá thực thụ của cuộc đời, để biết mến thương và trân trọng hơn.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5

0

5

0

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 5

Kế bên sự thành công của các tác phẩm như: “Cát trắng”, “Ánh trăng”, “Đãi cát tìm vàng”,.. thì bài thơ “Đò Lèn” của Nguyễn Duy cũng đã để lại trong độc giả những ấn tượng thâm thúy. Bài thơ này được ông viết năm 1983, trong một dịp trở về quê hương, sống với những hồi ức đan xen nhiều buồn vui thời thơ ấu.
Nhắc tới tuổi thơ là nhắc tới những hình ảnh đẹp tươi, yên bình nhưng Nguyễn Duy lại nhắc về tuổi thơ của mình với những kỉ niệm trong thời chiến tranh tao loạn:
“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần.”
Tuổi thơ của tác giả là những lần đi câu cá, theo bà đi chợ, bắt chim sẻ, đi ăn trộm nhãn. Không chỉ có vậy, trong tuổi thơ đó tác giả còn được theo bà lên đền Cây Thị, đi xem lễ đền Sòng, đi nghe điệu hát văn của cô đồng. Chúng ta có thể nhận thấy đây là một cậu nhỏ tinh nghịch, vô tư, hồn nhiên và rất hiếu động. Những kí ức tuổi thơ của cậu ko gắn với bè bạn, những đứa trẻ đồng trang lứa nhưng lại gắn bó mật thiết với người bà ngoại. Nhờ có bà nhưng người cháu biết được những nơi chốn, vị trí tâm linh của con người và đời sống ý thức của họ vô cùng phong phú. Bà và cháu gắn bó với nhau thật mật thiết bởi cậu nhỏ đó luôn đi theo bà dù là đi chợ hay đi lên đền, lên chùa. Chính vì vô tư tương tự nên lúc tác giả trông thấy sự lam lũ của bà cũng là lúc bản thân day dứt trong niềm hối hận:

“Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế bà mò cua xúc tép ở đồng Quan bà đi gánh chè xanh ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn.”
Tuổi thơ ham chơi nên cậu đã ko trông thấy được bà đã phải vất vả, tảo tần như thế nào vì cuộc sống mưu sinh. Hết đi mò cua xúc tép bà lại đi gánh chè, bán trứng. Bà đã gánh thêm cả trách nhiệm của người cha, người mẹ để nuôi cậu lớn khôn. Tới đây, tác giả ko còn gợi nhắc tới những trò chơi của tuổi thơ nữa nhưng thay vào đó là hình ảnh kiên cường, sự hi sinh của người bà.
“Tôi trong suốt giữa đôi bờ hư – thực giữa bà tôi và tiên phật thánh thần cái năm đói củ dong riềng luộc sượng cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm”
Tình mến thương của bà thật giống với tiên, Phật, thánh thần, cả luôn hi sinh, chịu những vất vả, cực nhọc để nuôi dưỡng cháu trưởng thành. Dù có gặp phải bao nhiêu khó khăn thì bà vẫn cam chịu, ko lùi bước. Sự khem khổ trong những năm đói phải ăn củ dong riềng luộc sượng nhưng tác giả vẫn nghe thấy đâu đây mùi thơm của huệ trắng, hương trầm. Phcửa ải chăng mùi hương đó là sự ám ảnh của quá khứ, của những ngày cậu đi theo bà lên đền Sòng, đền Cây Thị? Người bà đã chịu nhiều khổ cực nay lại phải kiên cường chống lại sự khốc liệt của trận đấu tranh phi nghĩa:

“Bom Mỹ giội nhà bà tôi bay mất đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn.”
Cuộc sống cùng cực là thế, nhà bà bị bom Mĩ giội bay mất, những nơi linh thiêng phục vụ đời sống ý thức con người nói chung và của bà nói riêng như chùa chiền cũng bay. Người bà lại một mình bươn trải với cuộc sống bằng nghề bán trứng. Còn gì vất vả hơn những khó khăn bà trải qua? Đạn bom ko hủy diệt đi sức sống của bà nhưng nó làm cho bà càng trở thành kiên cường, mạnh mẽ. Sự mạnh mẽ đó chính là sự mạnh lẽ của những con người người hùng, lớn lao. Thời gian thoăn thoắt thoi đưa, chẳng mấy chốc cậu nhỏ năm nào đã trưởng thành:

“Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi lúc tôi biết thương bà thì đã muộn bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.”
Tác giả xót xa, hối hận vì cho tới tận lúc trưởng thành mới thấu hiểu được nỗi cùng cực, sự hi sinh của bà. Khi người cháu muốn báo ơn thì người bà đã ko còn nữa. Khổ thơ là sự đớn đau, xâu xé tới ngậm ngùi vì mất đi một người thân yêu, thân thiện nhất. Khi người cháu đi lính trở về, muốn được nhìn thấy, báo đáp công ơn của bà thì “bà chỉ còn một nấm cỏ thôi”, niềm xúc động đã vỡ òa bật thành tiếng khóc nức nở. Có người nào ko động lòng xúc động, ko nghẹn ngào tiếng nấc trước cảnh tượng đó. Sự hối hận đã trở thành muộn màng, day dứt tâm can tác giả.
Bằng giọng điệu thật tâm, thâm thúy và sự thành công lúc sử dụng phép đối giữa hai bờ hư – thực, giữa bà ngoại với tiên, Phật, thánh, thần và giữa sự hiếu động, vô tư của người cháu với những cùng cực, hi sinh của người bà đã góp phần tạo nên sự thành công của tác phẩm. Nguyễn Duy ko cần mượn một hình ảnh biểu tượng nào trình bày tình cảm với người bà nhưng ông đã trực tiếp biểu lộ tình cảm đó qua hình ảnh người bà lam lũ, tảo tần. Chính điều đó đã để lại những dư vang vang vọng trong lòng độc giả.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6

0

6

0

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 6

Nguyễn Duy là một trong những thi sĩ rất trẻ của nền văn học Việt Nam. Ngay từ lúc còn là học trò phổ thông, Duy đã đoạt giải Nhất cuộc tho thơ báo Văn nghệ. Thơ Nguyễn Duy có sự liên kết hài hòa giữa cái duyên dáng, trưc tình với chất thế sự đậm đặc, nhiều bài là tiếng nói khí khái, bộc trực đầy ngang tàng nhưng trầm tĩnh, giàu chiêm nghiệm và mang ý thức công dân thâm thúy. Ông là một trong số ko nhiều cây bút hiện nay đã góp phần làm mới thể thơ lục bát bằng những tìm tòi theo hướng hiện đại, tạo nên nét lạ mắt thu hút. Viết về quê hương và tuổi thơ, Nguyễn Duy đã có một tác phẩm chiếm rất nhiều xúc cảm của người đọc: Đò Lèn. Bài thơ được sáng tác năm 1983, trong một dịp thi sĩ trở về quê hương sống với những kỉ niệm thân quen có nhiều buồn vui của thời thơ ấu. Trong miền ký ức đó, Nguyễn Duy ko thể nào quên được những trò chơi tinh nghịch lúc còn là một đứa trẻ em:

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâmvà đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng.
Không cần dùng ngôn từ hoa mĩ, tráng lệ, cũng chẳng có chút cầu kì, những kỉ niệm của một thời thơ ấu cứ thế tràn về trên trang thơ của thi sĩ. Chắc hẳn lúc này trong lòng Nguyễn Duy đang bổi hổi lắm, xao xuyến lắm. Ông để cái tôi trực tiếp của mình trong từng câu thơ. Ông muốn tự mình bộc bạch hết tất cả những xúc cảm đang dâng trào trong trái tim. Những kỉ niệm đó rất đơn sơ, rất thật tâm và mộc mạc, mang đậm chất quê hương của vùng nông thôn Việt Nam.Thuở nhỏ người nào đã từng lụi hụi trốn đi trong những buổi trưa hè ơi ới gọi nhau đi câu cá, người nào từng bám váy bà đi chợ rồi nằng nặc đòi bà sắm cho cái bỏng, cái kẹo, người nào đã từng chèo vắt vẻo trên cành cây sấu cây nhãn bắt tổ chim… Những kỷ niệm hết sức thân yêu và thân thuộc,gợi lại cho người đọc những cảm giác triền miên và như đang được sống lại thời thơ ấu của chính mình. Bởi trong những kỉ niệm nhưng Nguyễn Duy kể ra ở đây, cũng có nhiều người đã từng trải qua một thời như thế – ngây dại và hồn nhiên. Bởi vậy, tôi đâu biết rằng những gì nhưng bà đang phải gánh chịu mỗi ngày:

Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn
Bà của Nguyễn Duy xuất hiện như từ trong câu chuyện cổ tích bước ra. Bà hiền từ, bà giàu tình mến thương vô bờ bến. Bà mò cua xúc tép, bà gánh chè xanh đi bán, cả trong những đêm hàn bà vẫn thập thững bước đi. Dáng dấp nhỏ nhỏ nhưng trái tim bà lớn lao đã lấy đi nước mắt của nhiều người đọc. Bà ko những làm cha nhưng còn làm mẹ nuôi nấng Nguyễn Duy nên người. Để lúc lớn khôn rồi, Nguyễn Duy nhớ về bà nhưng day dứt khôn nguôi. Và cứ thế, những kỉ niệm tuần tự hiện về trong tâm trí thi sĩ.
Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực
Giữ bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần
Cái năm đói, củ dong giềng luộc sượng
Cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm

Bom Mĩ giội, nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bat tuốt cả chùa chiền
thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn.
Càng nhớ, xúc cảm của thi sĩ càng dâng trào. Giữa hiện thực nhưng ông thấy mình như đang chìm trong ký ức – nơi có người bà dấu yêu, có những cuộc chơi bời tinh nghịch và quên mất những nỗi vất vả bà đang gồng gánh trên vai. Thế rồi, nạn đói hoành hành, Nguyễn Duy nhớ lại củ dong giềng luộc sượng nhưng vẫn mùi thơm huệ trắng, trầm hương. Lại thêm vào đó nỗi đau mất nhà mất nước lúc bom Mĩ giội. Giữa những trận mưa bom bão đạn, hình ảnh người bà già nua, nhỏ nhỏ lại xuất hiện với vai trò là người đi bán trứng ở ga Lèn. Vì cuộc sống mưu sinh, vì thằng cháu nhỏ ngây dại, một mình bà chịu đựng hi sinh nắng mưa dãi dầu chỉ mong con lớn khôn từng ngày. Và rồi, những hi sinh của bà cũng tới ngày được báo đáp lúc:

Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
Tôi lên đường chống lại bọn giặc ngoại xâm đã làm cho bà và bao mảnh đời cùng cực khác phải khổ. Suốt một thời thơ ấu đằng đẵng, lúc tôi đang vui đùa tinh nghịch lại là lúc bà vất vả sớm hôm. Tới giờ phút này lúc trông thấy tất cả, lại lúc lúc bà đã đi xa. Nguyễn Duy chỉ còn biết ngậm ngùi gửi nước mắt vào trang thơ:
lúc tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm mồ thôi.
Nguyễn Duy cũng thôi ko nhắc tới những ký ức tuổi thơ nữa. Bài thơ khép lại với hình ảnh nấm mồ của người bà mến yêu. Cả một cuộc đời bà đã vất vả gian lao, hi sinh hết mình, thương con thương cháu hết lòng. Bà chẳng ngại những sớm hôm mò cua xúc tép, những ngày đông băng giá thập thững gánh chè đi bán hàng rong. Từ thập thững nghe sao đầy day dứt và thương cảm nhưng tác giả muốn dành cho người bà trong ký ức. Nay bà đã đi xa rổi và tôi cũng lớn khôn rồi, đã trở thành một người lính dũng cảm, sẵn sàng đấu tranh. Hi vọng bà ở nơi xa kia có thể yên lòng nhắm mắt nhắm mũi.
Nguyễn Duy đã mang tới cho người đọc những vần thơ hết sức sống động, giản dị và đầy xúc cảm về miền ký ức ngọt ngào nhưng cũng lắm gian truân của mình với hình ảnh người bà đáng kính, đáng mến. Tác giả ko dùng bất kỳ một giải pháp nghệ thuật nào, tất cả đều hiện lên rất sống động, rất tự nhiên. Đó cũng là tấm lòng của tác giả muốn dành cho người bà mến yêu của mình suốt một đời vất vả hi sinh.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

7

0

7

0

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 7

Cuộc sống có những điều được gọi là nỗi nhớ, cứ xa xôi vô hình ; có những hình ảnh được gọi là hoài niệm mãi triền miên, dằng dặc ; và có những tình cảm được gọi là mến thương luôn ấm nồng thâm thúy nhưng thường đi xa rồi người ta mới biết cách gọi tên chúng. Ta gọi chúng như là hoài niệm, là nỗi nhớ, mến thương …
Cuộc đời người ngắn ngủi như chiếc lá, thoáng chốc thôi cũng đủ để măng non chuyển sắc vàng. Người ta lớn lên, bon chen nhau nhưng sống để rồi biết bao lần lại tìm về tuổi thơ trong những nỗi nhớ xa xôi như thế. Với Nguyễn Duy đó lại là cả một toàn cầu của “ Đò Lèn “ – nơi lắng kết những trị giá vĩnh hằng – bài thơ nhưng cái tên thôi đã gợi lên giữa lòng người nhiều suy nghĩ. Những người đã biết sẽ thấy thân thuộc nhưng những người ko biết lại dễ phân vân: cái gì là “ Đò Lèn “ ? Hai tiếng đó vô tình trở thành một khái niệm khó tưởng tượng trong lúc thực chất nó lại vô cùng giản dị . Nó ko phải là con đò, là dòng sông, bến nước hay cái gì đó chợt nảy ra lúc lần đầu nghe tới. Đò Lèn là tên một miền đất như bao miền đất khác, nơi đã tạo nên tuổi thơ, tạo nên hoài niệm trong bao lớp người xứ Thanh Hóa :
Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần
Tuổi thơ được tác giả gợi lên với hình ảnh của bà, với những trò chơi thuở nhỏ.Ở đó có cậu nhóc nào ham chơi mê mải câu cá, có cô nhỏ nào nũng nịu : níu váy bà” ra chợ sắm quà. Cái cống Na và chợ Bình Lâm hẳn đã là cả một thiên đường của thi sĩ. Ông viết nó giản dị và sống động như vừa đem từ cuộc sống vào chứ ko chỉ từ một nỗi nhớ thôi. Nào là đi bắt chim sẻ, rồi đi ăn trộm nhãn của chùa, …, được lang thang trên đồng ruộng, trong những ngôi chùa, khu vườn rộn ràng tiếng chim kêu. Không gian mở ra rộng lớn và mênh mông thỏa mãn tính hiếu động, ham mê khám phá của tuổi nhỏ, đưa chúng hòa nhập vào tự nhiên, đất trời. Được chơi đùa, được tinh nghịch thoải mái mới thấy hết niềm thích thú vô tận. Đó thật sự là tuổi thơ đúng nghĩa, khác hẳn với ko gian nhỏ nhỏ xung quanh bởi 4 bức tường chật hẹp hiện thời. Ta có thể tưởng tượng ra trước mắt là hình ảnh một cậu nhỏ tinh nghịch, lấm lem nhưng mắt sáng ngời. Không có quần áo đẹp, ko có búp bê, siêu nhân , những tuổi thơ như thế hôm nay chỉ còn phảng phất trong nỗi nhớ người trưởng thành, trong ánh mắt xa lạ hào hứng của trẻ em lúc xem phim, đọc truyện ngày trước- cái thời của ba, của ông mình. Đoạn thơ như một cuốn phim quay chậm triền miên , dằng dặc trôi đi:
Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng
Trở về tuổi thơ ta trông thấy niềm hạnh phúc thơ ngây, trong sáng với đôi chân nhỏ nhỏ thoăn thoắt khắp nơi, ru mình trong làn hương và điệu hát. Bàn “chân đất” đã trở thành hình ảnh ko thể nào quên đối với mỗi người, cái cảm giác được trực tiếp chạm chân vào đất mát lạnh tới vô cùng, nó ghi dấu hành trình những đêm lễ xa xôi. Và cũng như thế, mùi huệ trắng , làn khói trầm, điệu hát văn đã đi vào từ vô thức! Tất cả chúng góp phần tạo nên tuổi thơ đầy hồn nhiên, tinh nghịch trong tâm hồn mỗi người đã đi qua tuổi thơ, nhiều lúc phải xin “ cho tôi một vé đi tuổi thơ “. Từ ngày đó tới hiện thời là cả một quá trình con người lớn lên, tạo nên nhận thức. Ngày còn nhỏ vô tư, vô tư:

Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bàđi gánh chèxanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập những đêm hàn
Bà hiện lên trong cuộc sống của cháu lặng lẽ, lặng thầm… Cái đầu non nớt và trái tim nhỏ dại đâu biết thế nào là nỗi cùng cực, nhìn mọi việc rồi cũng sớm quên đi. Không trách được bởi lẽ trẻ em đâu thể thâm thúy như người lớn nhưng hoặc giả có thâm thúy thì tâm hồn đã chai sạn đi rồi đâu còn là trẻ em với nét thơ dại- cái thơ dại được ấp ủ bằng mồ hôi và nước mắt bà. Mến thương cao thượng tạo điều kiện cho tâm hồn tránh những bão dông. Ngày còn nhỏ, yêu bà là yêu những câu chuyện cổ tích lung linh huyền ảo :

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực
giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần
Bà thổi vào tâm hồn non nớt cái hồn dân tộc bao thế kỉ trong dân gian. Truyện bà kể lung linh sắc màu cổ tích, mang cháu tới với toàn cầu của những phép màu kì diệu: Cô Tấm chui ra từ quả thị, Lọ Lem sánh duyên cùng hoàng tử . Bà có mái tóc bạc phơ, có nụ cười hiền như bà tiên trong truyện kể. Bà dọa cháu rằng chằn tinh rất dữ, bảo cháu phải nghe lời,… Nhiều, và nhiều lắm… Chính những câu chuyện đã giúp cháu biết yêu cái thiện, ghét điều ác, có ước mơ và kỳ vọng. Thỉnh thoảng, tìm về tuổi thơ là tìm tới những điều tương tự, nghe lòng mình kể lại lời bà ấm áp. Tâm hồn sẽ được thanh lọc và trong sáng hơn. Cái ranh giới hư thực trong suốt như chính tuổi thơ con người vậy. Dễ tin, dễ nhớ và cũng dễ quên.
Lớn lên một tẹo cũng là lúc phải đương đầu với hiện thực , cái đói trở thành nỗi ám ảnh triền miên:
cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm
Đọc câu thơ ta bỗng nhớ về khoảng thời kì:
Năm đó là năm đói mòn đói mỏi Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại tới giờ sống mũi còn cay!
Nạn đói những năm 45 nhưmột nỗi kinh hoàng rải khắp tổ quốc. Củ dong, củ riềng cũng thành bạn, sượng sùng nhưng đáng nhớ, đáng thương. Mùi huệ trắng hương trầm cũng phảng phất như cái thoáng trở về bình yên… Những đứa trẻ thơ ngây mơ về một mùi hương đã lắng sâu vào đất, tâm hồn, thân thuộc và rất đỗi bình dị. Đói kém ko làm mờ đục tấm lòng trong sáng của trẻ thơ nhưng trái lại nó còn gợi nên những mong ước, thiện cảm thầm kín nhưng đáng yêu. Còn lại gì giữa nỗi nhớ cái bình yên ngày trước? Nó có là hoài niệm thương đau, đau xót?

Bom Mỹ giội, nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
thánh với phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn
Quê hương ngày khốc liệt in sâu vào tiềm thức trong khi những hình ảnh sự vật thân thuộc bị tàn phá. Bom đạn ko chỉ phá nát đất quê hương nhưng còn xóa nhòa đi tuổi thơ tươi đẹp. Kế bên ko gian thiên đường thuở nào là đổ nát, hoang tàn. Nhà bà, đền, chùa, tất cả tan biến đi dường như quá nhanh đối với những đứa trẻ chưa kịp lớn hoàn toàn. “ thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết “ lay dậy niềm xót xa, như khẽ chạm vào vết đau nhạy cảm. Cái boăn khoăn hết sức trẻ em lại là niềm đau trong lòng người hiểu chuyện như bà. Không còn quá thơ ngây, có nhẽ lũ trẻ hôm nào đã hiểu được cái nguyên do đằng sau nó. Nhưng như chưa tin vào chính mình nên mới thành nỗi băn khoăn chưa dám hỏi. Không còn nữa thánh, Phật mơ hồ, huyền diệu, thực tiễn dữ dội đối lập lại hoàn toàn. Còn bà vẫn vậy, lam lũ tháng ngày: “ Bà tôi đi bán trứng ở ga lèn”. Khi lớn lên , con người nhận thức được đầy đủ hơn, làm thành một hành trình trở về man mác:

Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
lúc tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.
Tình cảm tập trung hướng về bà, con người lam lũ ngập tràn mến thương. Bà nuôi lớn cháu để hôm nay cháu trở về đây chững chàng, tử tế. Cháu đã và đang là một người lính bảo vệ mảnh đất này, bảo vệ những tuổi thơ như cháu ngày xưa. Chút gì là hối tiếc, mến thương muộn màng. Đời người mấy người nào nhưng vẹn tròn tất cả! Con sông kia cũng bên lở bên bồi như người vậy. Bảo rằng đã muộn nhưng chưa bao giờ là quá muộn cả. Mến thương đâu cần biểu lộ rõ, cháu lớn lên thành người đã là cách thương bà tuyệt diệu nhất. Giờ đây đứng trước mộ bà những vất vả hy sinh ngày xưa càng trở thành thấm thía. Bà đã đi mang theo tất cả những điều đẹp nhất của tuổi thơ cháu bình yên trong nặng nhọc. Mất đi ko phải là kết thúc. Bà ko còn- cháu lớn lên góp sức cho tổ quốc, đó là cách tiếp nối sự sống đầy ý nghĩa. Nấm cỏ của bà chôn chặt mọi niềm đau, giữ lại miền ký ức trong sáng cho con người tìm về lúc mỏi mệt.
Tổ quốc mình có biết bao người bà như thế! Bà là hiện thân cho phụ nữ Việt Nam hiền từ, tảo tần hôm sớm. Những ngày tổ quốc chiến tranh, bà thay cha mẹ nuôi nấng con cháu, giữ cho cháu trọn vẹn một tuổi thơ. Đâu đâu ta cũng nghe nhắc về bà như một hình ảnh thiêng liêng nhất. Người bà đi vào trái tim mỗi người như một lẽ tự nhiên, là miền ký ức vĩnh hằng:
“Tiếng gà trưa Mang bao nhiêu hạnh phúc Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng.”
Bà, tuổi thơ và những hình ảnh thân thuộc bình dị trong cuộc sống tạo nên trị giá cao đẹp nhất. Đi tìm đâu cái xa xôi trong khi hạnh phúc luôn song hành trong cuộc đời mỗi người. Nó là tình mến thương vô điều kiện, là những tháng ngày vui chơi thỏa thích. Chúng như mảng màu rực rỡ chiếu sáng tâm hồn, hướng con người về chỗ cái đẹp, cái thiện căn: “Nhân chi sơ tính bổn thiện”.
Cùng với bà, quê hương Đò Lèn hiện lên sống động giữa tuổi thơ chan hòa. Nó hiện diện trong cái tinh nghịch thiếu thời, trong từng giấc mơ trẻ thơ, là nơi con người vẫy vùng, ngụp lặn. Mảnh đất lúc yên bình, lúc đớn đau oằn mình vì đạn bom nhưng lúc nào cũng phảng phất hương huệ thơm ngần, cái thứ hương vị đã trở thành đặc trưng tồn tại giữa tiềm thức.Đò Lèn của cống Na, chùa Trần, con sông 2 bờ bồi lở, cái tên mộc mạc nhưng chân tình thiết tha. Đò Lèn – nơi đó có bà, có cháu, có tất cả hoài niệm mến thương tồn tại vĩnh hằng cùng nỗi nhớ!

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

8

0

8

0

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 8

Nguyễn Duy là một cây bút tài hoa, đã từng có những bài thơ nằm lòng nhiều thế hệ như “Tre Việt Nam”; mặc dù tới nay tác giả tuyên bố “Gác bút” nhưng những gì ông để lại cho Văn học Việt Nam vẫn rất mới và ấn tượng. Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài thơ “Đò Lèn” của ông với hơi thơ mộc mạc, phảng phất chất dân gian truyền cảm, màn độc thoại hoài niệm của thi sĩ về bến cũ đã mê hoặc những người nào đọc nó.

Viết về người bà cùng những kí ức tuổi thơ, gắn liền với địa danh, thân thiết của quê hương, trong niềm tiếc thương, hối hận, xót xa muộn màng của người cháu nay đã trưởng thành. Bài thơ ko chỉ bộc lộ tình yêu quê hương tổ quốc, yêu những người thân nhưng đặc trưng còn mang lại trị giá thức tỉnh rất nhân văn.
Tuổi thơ và hồi ức dường như là một niềm xúc cảm đau đáu trong thơ Nguyễn Duy. Trong bài thơ “ánh trăng” ngày thắng lợi trở về thành thị, nhanh chóng thích ứng với cuộc sống đầy đủ tiện nghi vô tình quên lãng quá khứ khó khăn và tình nghĩa như một hình ảnh, một khoảnh khắc tự dưng của ánh trăng soi sáng lúc thành thị mất điện đã bật thức trong anh bao nỗi niềm, khởi đầu là kí ức trong veo của đứa trẻ đồng quê lớn lên với tự nhiên phóng khoáng và tiếc lại niềm xám hối thật tâm còn quá khứ. Còn ở đây kí ức của một thời tuổi nhỏ được tái tạo qua một anh quân nhân lúc đã trưởng thành, nghĩ về người bà đã mất của mình, tuổi nhỏ đó được tái tạo sống động và xúc động bởi nó chạm tới hồi ức và quan niệm một thời của hầu như hết thảy mọi người. lòng mến thương những người ruột thịt bao giờ cũng là thước đo quan trọng nhất cho lòng nhân ái của con người.
“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần”
Kí ức hiện lên trong tâm tưởng thi sĩ, rất sống động, rưng rưng xúc cảm, vừa riêng tư, vừa thân thiện với mọi người. một cậu nhỏ sống ở làng quê, cuộc sống đó nhiều mộng mơ và bình yên qua cảm nhận của cậu nhưng nó lại rất giản dị và đẹp tươi. Cậu say mê những trò chơi con trẻ: bắt chim, níu váy bà đi chợ, trốn tìm, chỉ với 4 câu thơ nhỏ nhưng đong đầy kỉ niệm của một thời hồn nhiên, tinh nghịch và thơ ngây. Hình ảnh cậu nhỏ quê vừa có nét gì rất riêng trong hoàn cảnh của thi sĩ vừa khiến người đọc thương yêu bởi sự hồn nhiên, ngồ ngộ của cậu nhỏ, đặc trưng câu mê nhân vật thánh thần như không đền cây thị,…ấn tượng sâu đậm nhất của cậu là hương trầm, hương huệ.

“Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế
bà mò cua, xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn.”
Những địa danh được nhắc tới trong bài thơ: “Đò Lèn, đồng Quan, chè xanh Ba Trại, Quán Cháo, Đồng Giao”. Tưởng chỉ là phép liệt kê đơn giản những miền đất quê hương Thanh Hóa nhưng thi sĩ đã thổi hồn cho nó, khiến hình ảnh thân yêu của quê hương hiện lên mang theo biết bao tình quê và hoài niệm, “đi vào cái nhỏ nhoi đời thường nhưng mang lại cái cao quý”. Kí ức chính là một điều kiện để thấu hiểu và gắn bó, các địa danh được nhắc tới với mật độ dày đặc, nơi nào cũng in dấu những kí ức của tuổi thơ.
Kí ức cũng mang hình bóng người bà đó chính là sợi dây nối quá khứ với hiện, nối những con người hôm nay với những người đã khuất, nối cả tư nhân với cội rễ. Có thể nói đó là sự gợi nhắc nhỏ nhẹ và thấm thía. Trong cảm hứng về cội nguồn, trong nỗi niềm thương nhớ thì có thể nói đây chính là nét đẹp trong xúc cảm thơ Nguyễn Duy:
“Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực
giữa bà tôi và tiên phật thánh thần
cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm.
Bom Mỹ giội, nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn!
Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
lúc tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”
Dù nói về đề tài gì trong cách nhìn mới mẻ của thi sĩ về chính mình là sự hồn nhiên, sống động, ko thi vị hóa hay tô hồng cuộc sống, chính hình đó đã làm cho hình ảnh thơ rất đỗi thân thiện và tạo nhiều xúc động trong lòng độc giả.
Trong vô vàn những kí ức tuổi thơ thì hình ảnh đọng lại với rất nhiều những nỗi niềm, đó là cuộc đời lam lũ, tảo tần, lặng thầm với muôn nghìn vất vả để nuôi dạy đứa cháu hiếu động, tinh nghịch, ta cũng ko thấy gì lạ về những người mẹ, người bà Việt Nam như thế nhưng đi vào thơ Nguyễn Duy lại xúc động lòng người và có sức ám ảnh tới vậy, bởi tính chân thực của đời sống và cái nhìn trìu mến, pha chút xót xa, hối hận của người cháu lúc đã trưởng thành. Cuộc đời thực của bà được thi sĩ gửi lại trong bài thơ.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

9

0

9

0

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 9

Trong cuộc đời con người, có nhẽ tuổi thơ là quãng thời kì trong sáng nhất, đẹp nhất. Có những tuổi thơ êm đềm, cũng có những tuổi thơ dữ dội nhưng dù vậy nào, lúc ko thể trở lại, mỗi chúng ta vẫn có những phút giây hoài niệm đầy tiếc nuối. Xuân Quỳnh thương ổ trứng gà của bà, Tế Hanh nhớ con sông quê hương, Bằng Việt trở lại bếp lửa mến thương… và Nguyễn Duy mải miết tìm về một Đò Lèn thuở nghe cổ tích.Cùng với Tre Việt Nam, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Ánh trăng… Đò Lèn là bài thơ được nhiều độc giả thích thú bởi những xúc cảm mến thương thật tâm nhưng người viết đã phổ một cách tự nhiên trong đó. Bài thơ gồm sáu khổ. Hai khổ thơ đầu là những kí ức về tuổi thơ với những trò chơi ngày nhỏ. Hai khổ tiếp theo là nhận thức và xúc cảm của nhân vật trữ tình về những hi sinh thầm lặng của bà ngoại. Khổ thơ thứ năm là kí ức về một những ngày bom Mỹ đánh phá toang hoang nhà cửa, chùa chiền. Va khổ cuối cùng là tâm trạng ngậm ngùi của nhân vật tôi lúc bà ngoại ko còn nữa. Xuyên suốt tác phẩm là tình yêu sâu nặng người cháu dành cho bà ngoại. Bài thơ khởi đầu bằng dòng hoài niệm, bằng những hồi ức về thuở xa xăm:Thuở nhỏ tôi ra Cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồngHai chữ “thuở nhỏ” mở đầu văn bản, được láy lại lần nữa ở khổ thứ hai ko chỉ là dấu mốc thời kì nhưng như còn đong đầy nỗi ngậm ngùi. Chủ thể điểm nhìn trong bài thơ là nhân vật tôi – nhưng ko phải là tôi của thuở nhỏ nhưng là tôi lúc đã lớn khôn, trưởng thành. Đó là lí do những kỉ niệm ùa về rất nhiều nhưng tất cả chỉ được gọi tên vội vã: “câu cá”, “níu váy bà đi chợ”, “bắt chim sẻ”, “ăn trộm nhãn”, “chơi đền Cây Thị” “xem lễ Đền Sòng”.Những trò chơi của cậu nhỏ nông thôn được liệt kê với mức độ dày đặc. Ngần đó trò cho phép chúng ta tưởng tượng về một chú nhóc tinh nghịch, hiếu động. Điều đáng nói là kỉ niệm của cậu ko gắn với lũ bạn cùng tuổi nhưng luôn vấn vít với bà ngoại. Bà ngoại tôi chỉ xuất hiện duy nhất trong hành động tới chợ Bình Lâm nhưng tưởng như bước chân bà luôn theo đỡ bao kỉ niệm của thằng cháu ngoại. Trẻ con – nhất là những nhỏ trai – vẫn thích tha thẩn nơi vườn cây, ao cá nhưng điểm tới của nhân vật tôi lại là những đền chùa, chợ búa – nơi các bà cụ thường tới lui. Nguyễn Duy nhắc tới năm địa danh thì trong số đó có tới ba tên chùa, đền. Chùa Trần, đền Sòng, đền Cây Thị, bà tới cũng chính là những nơi cậu nhỏ theo đi, tất nhiên ko phải để thành tâm lễ Phật như bà nhưng để khám phá bao điều kì thú ở đó. Có thể ngày nhỏ, nhân vật tôi chỉ mải miết với những trò tinh nghịch của mình, thậm chí sẽ bị bà ngoại quở trách vì các hành động “bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật”, “ăn trộm nhãn chùa Trần”. Nhưng rồi tất cả những gì trầm tích trong kí ức lại là “mùi huệ trắng quyện khói trầm” và “điệu hát văn” cùng bóng vía cô đồng trong chùa. Giờ thì ta hiểu vì sao tác giả ko ngừng lại mô tả cụ thể một trò chơi nào. Mùi hương thanh khiết, trầm tịch chốn thâm nghiêm và điệu hát cô đồng khó hiểu là tất cả những gì choán đầy nỗi nhớ nhân vật trữ tình. Điều phảng phất, thậm chí ko cố tình được trẻ thơ lưu lại trong sự ghi nhớ lại có sức bám đọng mãnh liệt nhất lúc kí ức dội về. Căn nguyên là đâu? Có phải vì nhấp nhoáng trong khói hương thơm ngát và điệu hát văn thuở xưa là bóng vía bà ngoại dấu yêu của nhân vật tôi? Sang khổ thơ tiếp theo tứ thơ có sự chuyển đổi đột ngột. Không còn là các trò tinh nghịch thuở thiếu thời nữa nhưng là nỗi mến thương ko thể nén kìm:Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế bà mò cua xúc tép ở đồng Quan bà đi gánh chè xanh ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hànDòng hoài niệm ko ngừng lại ở những trò chơi thuở nhỏ nhưng được tiếp nối bằng hình ảnh bà ngoại lam lũ, tảo tần. “Tôi đâu biết” – ko hẳn là lời sám hối nhưng đó là lời tự trách đầy tiếc nuối, xót xa của người cháu lúc trưởng thành. Tất cả những gì khuất lấp trong tuổi thơ giờ đã được nhận thức sáng tỏ. vẫn là thao tác liệt kê nhưng ko phải là trò chơi thuở nhỏ nhưng là bao vất vả, “cùng cực” của bà. Thực ra, mò cua, xúc tép, gánh chè… là những việc thân thuộc của người phụ nữ nông thôn Việt Nam. Nếu người nào đã đọc những câu thơ của Trần Đăng Khoa, chắc sẽ thương lắm dáng bà, dáng mẹ giữa trưa tháng sáu:Nước như người nào nấu Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ Mẹ em xuống cấyNếu người nào đã đọc Bèn kia sông Đuống của Hoàng cầm, sẽ thấy có sự đồng điệu giữa Hoàng Cầm và Nguyễn Duy trong hình ảnh thơ:Mẹ già nua gày gò gánh hàng rong Dăm miếng cau khô Mấy lọ phẩm hồng Vài thép giấy đẫm hoen sương sớmNhững “cùng cực” đó lẽ ra ko nên có ở những người bà đã đi qua bao nhọc nhằn trong cuộc sống, ko nên có ở thế hệ lẽ ra phải được thư thả, vui vầy bên con cháu. Một lần nữa Nguyễn Duy cho các địa danh xuất hiện, nhưng đó ko còn là những đền chùa linh thiêng. Ba Trọi, Đồng Quan, Quản Cháo, Đồng Giao là nơi in dấu chân bà ngoại tảo tần sớm hôm. Không gian tiếp nối ko gian, mở -rộng, kéo dài hành trình lam lũ của bà đồng thời khơi sâu thêm nỗi xa xót trong lòng cháu. Từ láy “thập thững” đựng lên trước mắt người đọc dáng đi ko vững chãi, thậm chí siêu vẹo của người mắt kém đang phải mang gánh nặng trên vai. Cụm từ “những đèm lùm” vừa chỉ thời kì, vừa có trị giá mô tả ko gian. Đêm là thời khắc muộn hơn tối. Cũng để chỉ cái lạnh nhưng Nguyễn Duy ko viết “đêm lạnh”, “đêm rét” nhưng viết “đêm hàn”. Liên kết từ khôn khéo này mang lại hiệu quả nghệ thuật bất thần. Trong cái lạnh của đêm tối, ta còn cảm thu được cả cái buốt giá của sương đêm. Những cùng cực của bóng vía lầm lụi ko được mô tả cụ thể nhưng vẫn được gợi nên trong suy tưởng người đọc. Đó chẳng phải là những hi sinh lặng thầm sao?Nhân vật trữ tình dường như ko dám tin vào những điều mình trông thấy, ko dám tin vào những điều thuở nhỏ thơ mình ko cảm thu được. Cảm thức về bà ngoại cùng bao kí ức sâu đậm về những vị Phật tiên đã khiến thi sĩ phân vân:Tôi trong suốt giữa đôi bờ hư thực Giữa bà tôi và tiên phật thánh thần Cái năm đỏi củ dong riềng luộc sượng Cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầmCó lẽ đây là khổ thơ hay nhất trong bài. Hay bởi cách nói và xúc động bởi chiều sâu tình cảm. “Trong suốt là tính từ chỉ tính chất sự vật, hiện tượng được Nguyễn Duy đưa vào lời thơ, đảm nhiệm tác dụng của động từ tình thái. Thật khó để gọi tên xác thực xúc cảm của nhân vật trữ tình. Chỉ có thể khẳng định một điều, trạng thái này thân thiện với phút đốn ngộ của các bậc tu hành nhà Phật. Hình ảnh bà được đặt trong thế đối sánh ngang hàng với tiên phật, thánh thần trình bày lòng ngưỡng mộ, tôn sùng của nhân vật tôi. Phcửa ải thực sự thấm thía, trân trọng công ơn của bà, nhân vật trữ tình mới có được tình cảm thâm thúy, mãnh liệt tới vậy. Tình cảm đó được đặt trong thế đối lập giữa hai ko gian: ko gian trần tục và ko gian tĩnh thổ.Cảm giác đói bị át đi bởi hương huệ trắng và hương trầm thanh khiết. Lần thứ hai hương thơm đó xuất hiện trong bài thơ. Nhưng lần này nó ko được cảm nhận bằng khứu giác nhưng bằng thính giác. Cái tinh tế của ý thơ chính là ở chỗ này đây. Nếu chỉ là “cứ thoang thoảng” hay “cứ ngửi” thì hương huệ trắng và hương trầm chỉ là thứ hương của ngày nay. Đấy là chưa kể việc sử dụng từ “ngửi” sẽ làm mất đi ý vị tao nhã của hình ảnh thơ, của lời thơ. Phcửa ải là “nghe” thì mới thấy quá khứ vọng về, thì mới thấy sức ám ảnh của hương thơm quá khứ. Cảm thức về bà luôn gắn với sự thanh nhã, nhân hậu, đức độ. Bà như thần tiên, bà như cổ tích và bà luôn bất tử trong tiềm thức cháu. Khổ thơ thứ tư là bản lề khép lại những kí ức thuở nhỏ và tới gần hơn với mất mát thực tiễn được gợi tả trong khổ thứ năm:Bom Mỹ giội nhà bà tôi bay mất đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết bà tôi đi bán trứng ở ga LènChiến tranh với những đau thương mất mát đã đi vào thơ ca và trở thành chủ đề xuyên suốt một thời đại. Mỗi người bước vào chiến tranh và đi ra với những mất mát riêng. Với Nguyễn Duy, đau thương nhất là sự toang hoang, đổ nát của những chùa chiền và ngôi nhà bà ngoại. Nhà thơ đã lựa cách nói để kìm nén những tổn thương ý thức. Không khắc họa “kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang” như Hoàng Cầm, Nguyễn Duy chỉ nhẹ nhõm kể: “nhà bà tôi bay mất”, “tới Sòng bay”, “bay tuốt cả chùa chiền”. “Bay” thực chất là tan, là đổ nát đấy chứ. Nhưng “bay” cũng là gắn với cảm thức tiên Phật. Nơi bình yên ko còn yên bình nữa. Cái khốc liệt của chiến tranh in dấu ấn cả vào trong đời sống của thần tiên, huống gì con người? Điểm kết của những kí ức là hình ảnh người bà “đi bán trứng ở ga Lèn mặc cho “bom Mỹ dội”, mặc cho “Thánh với Phật” đã phải rủ nhau đi. Vẫn là sự tảo tần để mưu sinh? Hay sẽ là khởi đầu cho một bất trắc ko lường trước được, một mất mát khôn xiết? Ga Lèn là điểm kết của câu thơ nhưng lại được chọn làm nhan đề cho bài thơ, điều đó chứng tỏ địa danh này gắn với sự kiện quan trọng. Phcửa ải chăng, chính tại nơi đây, những ngày được gắn bó cùng người bà mến yêu của thi sĩ – nhân vật trữ tình cũng hết?Thời gian trôi bẵng đi, lúc đã trưởng thành, đã trông thấy những hi sinh lớn lao của bà, đã ý thức được tình cảm, trách nhiệm của mình, cũng là lúc nhân vật trữ tình mất bà mãi mãi. Hai câu cuối ko rực rỡ về tứ thơ nhưng gây xúc động trong lòng người đọc. “Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”- lời thơ nghe đầy xót xa, nuối tiếc.Đò Lèn là bài thơ ko mới về chủ đề nhưng vẫn có sức thu hút đặc trưng nhờ cách diễn tả lạ mắt, nhờ sự phô bày những mến thương thật tâm của người viết. Tình mến thương bà luôn gắn với cảm thức chùa chiền, tiên phật nên mang màu sắc thanh khiết, sáng trong. Hàng loạt những địa danh của quê hương được gọi tên càng tô dậm sự chân thực trong xúc cảm. Đó là những nét riêng, lạ mắt để đọc Đò Lèn, chúng ta ko nhầm với Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh, Bếp lửa của Bằng Việt…

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

10

0

10

0

Bài văn phân tích tác phẩm “Đò Lèn” của Nguyễn Duy số 10

Trong đời sống văn học, có những bài thơ, câu thơ, lúc ta mới đọc một lần chưa thuộc được, nhưng có cái gì đó nó cứ ám ảnh ta như một “ma lực” đầy thu hút, tâm trí ta ko thể nguôi ngoai được. Bởi lẽ những vần thơ đó đã chạm vào ngõ ngóc sâu kín tâm hồn ta, rung lên cái phần tiềm thức của tình cảm ấp ủ trong ta lâu nay. Cuộc sống bộn bề với những suy tính mưu sinh lắm lúc ko còn thời kì để ta yên ắng, sống lại những kí ức đẹp tươi, những hoài niệm về tuổi thơ…

Thơ Nguyễn Duy đã làm thức dậy trong ta tất cả nét đẹp nhân văn đó. “Nghĩa vụ công dân cao cả nhất của các nhà văn là viết cho hay, đánh thức những phần tốt đẹp nhất của lòng người, tạo điều kiện cho con người được sống nhận định các phần được sống ở trần gian” (Vũ Quần Phương). Thiết nghĩ đấy là thiên chức cao cả, là trách nhiệm lớn nhất của những cây bút tài năng nhưng nặng “tâm” với đời, với người.
Nguyễn Duy tên là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 tại xã Đông Vệ (nay thuộc thành thị Thanh Hóa). Năm 1965, ông tòng ngũ, đấu tranh ở chiến trường nổi tiếng khốc liệt thời chống đế quốc Mĩ như Khe Sanh, đường 9 Nam Lào. Xuất ngũ ông theo học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từ năm 1977 tới nay, ông làm đại diện thường trú của báo Văn nghệ ở phía Nam. Như vậy trước lúc cầm bút Nguyễn Duy đã “cầm súng” với tư cách là một chiến sĩ, theo đúng nghĩa đen của từ láy. Có nhẽ, chính sự từng trải, cuộc thử thách giữa sống và chết, giữa thủy chung và phẫn nộ giúp ông có được cái tâm vững bền và đằm sâu.
Nguyễn Duy có cả một mảng thơ quan trọng dành cho ông trình bày tâm trạng của mình về những người trong gia đình, bằng hữu, anh em, từng để lại kỉ niệm thâm thúy trong đời ông từ thuở thơ dại tới lúc đã luống tuổi. Bài Đò Lèn là một kí ức về bà ngoại trong những năm tháng đầy vất vả, cực nhọc khiến ông vô cùng xúc động và khâm phục. Khác với bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt viết về người bà nhóm lên bếp lửa ngoài đời và cũng nhóm lên sự ấm áp của tình thương, của hi vọng, nâng bước chân người lính hành quân trên trục đường dài ra trận hoặc trên đường đời, bài Đò Lèn nghiêng về trình bày đúng dáng vẻ người bà với đức hi sinh lặng thầm, nhẫn nại cho tới lúc “bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”. Bài thơ làm cho người đọc càng nghiền ngẫm, nhập tâm càng xúc động tới rơi lệ. Bóng vía người bà như thế trong ta người nào cũng có một phần dù hoàn cảnh sống có không giống nhau.
Bài thơ gồm sáu khổ thơ, tái tạo lại những mẫu kỉ niệm về người bà đã lùi rất xa về thời kì nhưng trong nỗi nhớ thì hiện hình mồn một. Khổ thơ đầu có những cụ thể thật xúc động và dí dỏm:
“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật và đôi lúc ăn trộm nhãn chùa Trần”
Cứ thế hình ảnh “tôi” và “bà” cùng song hành trên trục đường nỗi nhớ của thi sĩ. Kỉ niệm thật giản dị và chân thực, ko thơ mộng cừ khôi gì cả. Tuổi thơ “ngày hai buổi tới trường”, “bắt chim sẻ”, “ăn trộm nhãn chùa Trần” thật hồn nhiên biết bao nhưng với chúng ta, nó đã trở thành kí ức đẹp tươi nhưng sau này đi xa và lớn lên người nào cũng lưu luyến, nhớ nhung. Lời thơ mộc mạc diễn tả được cái vô tư trong sáng pha chút tinh nghịch đáng yêu của tuổi thơ dại. Tác giả còn hồn nhiên lắm, thích thú được “níu váy bà đi chợ Bình Lâm”. Hình ảnh bà cháu thật thân thiện, ấm áp và dân dã. Cháu đã nương tựa vào bà để sống, để lớn lên, coi đó như một lẽ tất nhiên. Bước chân tung tẩy theo bà đi chợ để lại dấu ấn của một thời hồn nhiên, trong sáng. Nhà thơ bổi hổi nhớ lại:
“Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng”
Cảm giác của thi sĩ lúc đó như đang sống giữa “hai bờ hư – thực”. Bà là hình ảnh “thực” ở đời còn thánh Phật là của cõi “hư”. Có nhẽ đây là ấn tượng thu hút thi sĩ mạnh nhất nên phần sau còn được nhắc tới nhiều lần. Bà đã hòa nhập vào cái toàn cầu huyền ảo đó, toàn cầu của sự trong sạch và của lòng tốt, đức độ, bao dung. Chữ “thơm lắm” nghe sao nhưng vương vấn ấm áp, đầy quyến rũ. Mùi hương đó khiến nỗi nhớ ko còn mốc thời kì:
“Đất Tây Bắc tháng ngày ko có lịch Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương”(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)
Kỉ niệm hiện về đầy sức ám ảnh. Nhà thơ sống lại với quá khứ vì nó có sức hút kì lạ, có “bàn chân đất” và có “bóng cô đồng”, có “củ dong riềng luộc sượng”, cũng có “mùi huệ trắng hương trầm”. Vừa cụ thể vừa hư vô. Những đêm sống với đền Sòng Sơn như thế cho tới mãi sau này tác giả vẫn ghi sâu trong sự ghi nhớ bao vóc dáng hình và cả ko khí linh thiêng nhưng người ta hay nhắc tới câu: “Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh”. Nhang khói nhập nhòa “mờ mờ nhân ảnh”, bóng bà hiện về trong nỗi nhớ, mãnh liệt nhưng bảng lảng như làn sương thu. Cái “thơm lắm” của hương trầm linh thiêng phải chăng còn là cái “thơm lắm” của tâm hồn bà. Những bông huệ trắng trên bàn thờ của bà hôm nay mang mùi hương xưa vời vợi. Đắm mình trong toàn cầu huyền ảo cừ khôi đó thi sĩ “giật thót” trông thấy:
“Tôi đâu biết bà tôi cùng cực thế bà mò cua xúc tép ở đồng Quan bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”
Lời thơ có gì ngậm ngùi, xót xa trước kí ức về người bà vật lộn với cuộc sống để mưu sinh cho mình và cho con cháu. Bà “cùng cực” nhưng “tôi đâu biết” vì tác giả còn hồn nhiên, vô tư quá! Lời thơ phảng phất một nỗi sám hối, tự trách mình mặc dù mình ko có lỗi. Nhà thơ gạt đi lớp sương khói để nhìn bà ở phần trần gian cho rõ hơn. Đó là sự thực diễn ra hàng ngày mỗi sáng mỗi đêm về. Những địa danh cụ thể nhưng tác giả nhắc tới ở khổ thơ trên kéo ta trở về với thực tại một trăm phần trăm. Trong văn học, tái tạo cuộc sống cũng là một cách bộc lộ thái độ, tình cảm. Nguyễn Duy dùng những từ ngữ thật sát với hiện thực để phơi bày cho được những cùng cực của bà. Người đọc rất xúc động trước câu thơ: “Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”. Chữ “thập thững” gợi lại rất đúng những bước cao, bước thấp, mò mẫm trên trục đường mấp mô nhưng sức khỏe của bà thì ko còn nhiều. Đọc câu thơ thấy cả một sự lẻ loi lặng thầm và gió lạnh từ quá khứ thổi về. Chữ “thập thững” gợi hình nhưng cái chính là gợi cảm, có cái gì tội nghiệp trong đó. Người cháu nhớ lại và thương bà nhiều lắm! Và còn nhiều lắm những bước chân như thế của bao người bà, người mẹ ta gặp trên đường đời. Bà ko đếm được và ta cũng ko đếm được những bước chân gày gò trong đêm. Trời đất chứng giám cho đức hi sinh của bà và nhắc ta đừng quên.
Hai khổ thơ tiếp theo diễn tả một xúc cảm khác, mặc dù thân thuộc với phần trên: “Tôi trong suốt đời giữa hai bờ hư thực giữa bà tôi và tiên, Phật thánh thần cái năm đói củ dong riềng luộc sượng cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm Bom Mĩ dội – nhà bà tôi bay mất đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”.

Xin hãy đừng vội nhưng cho rằng thi sĩ đã hạ cái “thánh thần” đi để nâng “bà” của mình lên. Như thế e ko được, vì chốn đó bà đã từng cúi mình nhưng mà! Đó là phần thuộc đời sống tâm linh của bà. Vậy những dòng thơ trên nên hiểu theo nghĩa tự sự, tức là sự thực thế nào, thi sĩ kể lại thế đó. Chùa chiền “bay tuốt” rồi, bà ko còn nơi để đi lễ nữa. Hiện hữu và tâm linh, đời thường hay cừ khôi? Nhà thơ đứng giữa hai miền đất đó, một tẹo phân tâm nhưng rồi cái đọng lại vẫn là hình ảnh người bà với bước chân như ngày nào: “Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”.
Người ta thường nói “Phật tại tâm”. Bà tu tâm chấp thuận thương và đức hi sinh, bằng những bước chân hì hụi trong đêm. Bà đã hóa thân vào tiên, vào Phật tự lúc nào ko hay. Nhưng bà vẫn là bà thôi! “bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”. Câu thơ đọc lên thoạt đầu ta chỉ hiểu là diễn tả việc làm của người bà.

Đơn giản thế thôi nhưng thơ ko chấp nhận sự thưởng thức đơn giản, thô thiển. Đằng sau câu thơ là một bức họa để cháu tặng bà, ghi nhận những năm tháng gian nan để hàm ơn. Câu thơ ko ngừng lại bởi bàn chân bà còn đi và rồi… Bà đi mãi… ko về, để lại trong Nguyễn Duy một nỗi nhớ vời vợi, mênh mông. Bà đã trở về với đất một cách giản dị, giản dị nhưng cao cả. Đằng sau bàn chân đất và bên trong chiếc áo nâu vá víu là một tâm hồn, một trái tim canh cánh bao nỗi niềm con cháu. Nguyễn Duy ko thêm lời bởi vì tới đây cần một sự lắng đọng để suy ngẫm, chiêm nghiệm – Thơ có kiểu tự sự rất thơ! Đoạn kết trong bài là cả một sự trằn trọc:

“Tôi đi lính… lâu ko về quê ngoại dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi lúc tôi biết thương bà thì đã muộn bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”
Cái dấu ba chấm giữa câu thơ đo đếm những bước chân hành quân những đêm ngủ giữa rừng và bao trận đánh, tháng năm. Đời người thì hữu hạn “Nhân sinh ba vạn sáu nghìn thôi” (Nguyễn Công Trứ), bà đã về với tổ tông. Bà đã đi trọn một kiếp người. Hương trầm vẫn tỏa đâu đây chứng giám cho sự thành tâm và khâm phục của cháu với bà. Một tẹo sám hối nữa lại trở đi trở về làm cho Nguyễn Duy lớn thêm lên về tâm hồn và tư tưởng. Độc giả yêu thơ Nguyễn Duy vì cái tài nhưng quan trọng là cái tâm.
Bài thơ khép lại lúc một kiếp người đã khép lại: “bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”. Đọc câu thơ thấy có cái gì yên lặng tới vô cùng. Bà đã ra đi thanh thản bình dị, chìm lẫn vào cỏ xanh. Nhưng đấy là sự kinh dị của vàng ngọc. Mỗi người bà, người mẹ hi sinh cho đời ở những mức độ và lĩnh vực không giống nhau, nhưng giống nhau ở trái tim đầy mến thương.
“Sống trong cái chết vùi trong cát Những trái tim như ngọc sáng ngời”(Mẹ Tơm – Tố Hữu)
Hai câu cuối trong bài Đò Lèn phảng phất thảm kịch tâm trạng của tác giả. Muốn gửi tới bà một tiếng nói hàm ơn và thương yêu bà nhưng “dạ đài cách mặt khuất lời” (Kiều – Nguyễn Du). Bài thơ kết thúc cũng là lúc nỗi xót xa trỗi dậy trong nỗi niềm của thi nhân.
Để hiểu thêm về tác giả và bài thơ này, ta hãy đọc thêm vài đoạn thơ nhưng Nguyễn Duy dành cho cha mẹ, ông bà. vẫn là lời lẽ mộc mạc, thành thực, ẩn chứa một nỗi buồn sâu lắng:
“Rơm rạ ơi, ta trở về đây Xin cúi lạy vong linh làng mạc Bà và mẹ hóa cánh cò cánh vạc Ông và cha man mác kiếp trâu cày ”(Về đồng)
Có lúc ông liên hệ giữa thơ và đời như để nhắn nhủ mình:
“Ta đi mộng mơ trên trời Để cha cuốc đất một đời chưa xong”
Ông nhắc nhở mọi người cần biết sống thủy chung với quá khứ:
“Bà nuôi mẹ, mẹ nuôi con Liệu ngày mai các con còn nhớ ko?Chân nhang lấm láp tro tàn Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào”
Trong luồng mạch xúc cảm đó, bài Đò Lèn ẩn chứa sự cúi đầu trước một “vong linh làng mạc”. Có thể xem bài thơ này thay cho một nén nhang nhưng thi sĩ thắp lên để tưởng nhớ bà. Vì thế đọc thơ lên ta thấy câu chữ lúc nào cũng trĩu nặng sự tưởng nhớ, hoài niệm: “Thơ ko chỉ là văn học nhưng chính là ruột gan” (Tố Hữu).

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

#Top #Bài #văn #phân #tích #tác #phẩm #Đò #Lèn #của #Nguyễn #Duy #hay #nhất


  • Tổng hợp: Thư Viện Hỏi Đáp
  • Nguồn: https://toplist.vn/top-list/bai-van-phan-tich-tac-pham-do-len-cua-nguyen-duy-hay-nhat-37420.htm
Back to top button