Giáo Dục

Phân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giang của Huy Cận

Phân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giang của Huy Cận là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học trò lớp 11, nhằm giúp các em học trò biết lập dàn ý lúc làm văn, nắm được các nội dung trọng tâm tránh đi lạc đề. Đồng thời giúp quý thầy cô sẽ tiết kiệm thời kì lúc tìm tài liệu tham khảo, các em có thêm nhiều ý tưởng lúc viết văn. Cùng Học247 tham khảo nhé! Ngoài ra, để làm phong phú thêm tri thức cho bản thân, các em có thể tham khảo thêm bài giảng Tràng giang.

1. Sơ đồ tóm tắt gợi ý

2. Dàn bài cụ thể

a. Mở bài:

– Trước cách mệnh, thơ Huy Cận chất chứa những nỗi buồn thế sự, mênh mang của một cái tôi trữ tình chơ vơ, lạc lõng trước thời cuộc rối ren.

– Cái tôi trữ tình buồn chán, đầy ám ảnh ko gian đấy hiện lên thật rõ ràng trong bài thơ Tràng giang.

b. Thân bài:

* Cái tôi trữ tình trong nhan đề và lời đề từ:

– Cái tôi mang đầy nỗi độc thân lạc lõng, đó là tâm hồn của một con người nhỏ nhỏ, một thanh niên trẻ tuổi nhưng đa sầu, đa cảm.

– Nhan đề “Tràng giang” gợi ra ko gian rộng lớn, rộng lớn của vũ trụ, mang đậm sắc thái cổ điển, càng tô đậm nên cái nỗi buồn của người thi sĩ, nỗi cô tịch, hồi ức về quá khứ với chiều sâu của mấy nghìn năm lịch sử huy hoàng.

– “Tràng giang” chỉ mọi con sông trên đất Việt, cũng là chỉ nỗi buồn chung của lớp những con người trước một thời đại rối ren, phức tạp.

– Lời đề từ mở ra xúc cảm chủ đạo của bài thơ viết về một ko gian rộng lớn mang tầm vóc vũ trụ, thức dậy những xúc cảm bâng khuâng, những nỗi nhớ vô định hình của một hồn thơ cô độc, lẻ loi giữa trời đất rộng lớn, mênh mang, trước cái lạnh lẽo nhưng sông nước mang tới.

* Khổ thơ 1:

– Nỗi buồn của Huy Cận ko dồn dập, mãnh liệt là trái lại êm đềm, gợn nhẹ như những cơn sóng nhỏ của tràng giang, có tính chất tuần hoàn “buồn điệp điệp”.

– Hình ảnh thuyền nước là một thi liệu thân thuộc trong văn học cổ điển, thế nhưng trong thơ Huy Cận lại gợi ra nỗi buồn chia ly, tan tác “sầu trăm ngả”.

– Hình ảnh củi khô là một hình ảnh hiện đại, mới mẻ ẩn dụ cho những kiếp người lạc lõng, ko có sức nặng mặc cho dòng đời đẩy đưa một cách chán ngán.

* Khổ thơ 2:

– Huy Cận tìm kiếm hơi ấm ở một điểm nhìn xa hơn, rộng hơn, nhưng cảnh những cồn cát “lơ thơ”, những ngọn gió “quạnh quẽ” lại càng làm cho tâm hồn thi nhân thêm se sắt, quạnh quẽ.

– Tiếng chợ chiều của làng xa càng tô đậm thâm cái ko gian vắng vẻ, im lìm tới ám ảnh và nỗi độc thân, lẻ loi của tác giả trước cảnh sông nước mênh mông.

– “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót/Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” một lần nữa lại càng tô đậm cái ko gian rộng lớn, nhấn mạnh cái sự xa cách của trời và đất, của sông và bến, bằng những tiểu đối lạ mắt và mới mẻ, dường như mọi vật trong vũ trụ đều trở thành xa cách nhau, chúng cũng lẻ bóng như chính cái tâm hồn đơn độc của nhân vật trữ tình.

* Khổ thơ 3:

– Thi liệu thân thuộc “bèo” xuất hiện trong thơ Huy Cận lại mang một tầng nghĩa khác, chỉ những cuộc đời lênh đênh, vô định bỏ mặc cho dòng nước đẩy đưa, là sự buông xuôi chấp nhận của một loạt những con người đương thời.

– Huy Cận càng thêm độc thân, lạc lõng lúc cố dõi mắt tìm kiếm một “chuyến đò ngang” nhưng ko thấy, chỉ thấy ko gian rộng lớn càng mở ra với “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.

* Khổ thơ 4:

– Khung cảnh “mây cao đùn núi bạc” tiếp tục kéo dãn, mở rộng thêm khoảng ko vũ trụ rộng lớn, càng thu nhỏ tâm hồn thi nhân, làm thi nhân càng trở thành chơ vơ, lạc lõng hơn.

– Hình ảnh cánh chim nhỏ chính là tượng trưng cho tâm hồn thi sĩ, nhỏ nhỏ, nghiêng cánh muốn tìm chốn nương về nhưng khốn nỗi cả trời đất rộng lớn nhưng chẳng thấy một nhành cây dẫu bóng chiều đã dần sa xuống.

– Từ hoạt cảnh đấy, nỗi niềm nhớ quê hương tha thiết lại tràn về, ngập đầy trong tâm hồn thi sĩ, đó chính là nỗi buồn chung của cả một thế hệ, là nỗi buồn nước mất nhà tan, là niềm suy tưởng về một tổ quốc mấy nghìn năm văn hiến người hùng nay bỗng trở thành quốc gia nô lệ, chịu cảnh rối ren.

– Thi nhân càng nghĩ lại càng thấy đau xót, chán ngán, thấy muốn buông bỏ trong sự bất lực trước thời đại.

c. Kết bài:

– Cái tôi trữ tình trong bài thơ đó là một cái tôi thật lẻ loi, cô độc mang những nỗi sầu, những cảm giác bất lực, thất vọng trước những đớn đau của quê hương quốc gia, nhưng một thi nhân với lòng yêu quê hương, quốc gia thâm thúy như Huy Cận lại phải chịu cảnh khoanh tay, trơ mắt ếch nhìn quốc gia ngày càng tàn tạ, rối ren.

3. Bài văn mẫu

Đề bài: Em hãy phân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giang của Huy Cận bằng một bài văn ngắn.

GỢI Ý LÀM BÀI

3.1. Bài văn mẫu số 1

Trong thơ Huy Cận trước Cách mệnh tháng Tám năm 1945, tự nhiên rất đẹp, quyến rũ nhưng nó thường phủ bởi một nỗi buồn. Tổ quốc, tự nhiên trong bài thơ Tràng giang cũng thấm sâu một nỗi buồn như thế. Bài thơ trình bày tâm trạng của “cái tôi trữ tình” độc thân, thấm đượm nỗi sầu nhân thế trước tự nhiên mênh mông, hiu quạnh và tấm lòng yêu nước thầm kín của Huy Cận.

Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận trước Cách mệnh tháng Tám. Bài thơ được trích từ tập “Lửa thiêng”, được sáng tác lúc Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng, nhìn cảnh mênh mông sóng nước, lòng vời vợi buồn, cám cảnh cho kiếp người nhỏ nhỏ, nổi trôi giữa dòng đời vô định. Mang nỗi u buồn hoài như thế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, mang lại sự thích thú, yêu quý cho người đọc.

Nhan đề và lời đề tự đã thâu tóm xúc cảm xúc cảm chủ đạo của cả bài thơ. Từ Hán Việt “tràng giang” với vần “ang” tạo sự lan tỏa tới mọi khía cạnh của ko gian. Bài thơ mở đầu bằng cảnh sông nước mênh mông vô tận:

“Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song.”

Từ láy “điệp điệp” gợi xúc cảm buồn vô tận của lòng người, “song song” gợi ta liên tưởng tới những đợt sóng trải dài. Nỗi buồn của cái tôi trữ tình cứ thế trải dài theo sông nước triền miên, trùng trùng lớp lớp tiếp nối nhau vô tận.

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng.”

Con thuyền cùng dòng nước vốn thương bên nhau nhưng nay cũng có sự xa cách: Thuyền đi để nước ở lại. Cành củi nhỏ ko biết đi đâu về đâu để rồi lại trôi nổi tới “lạc”. Cảnh sông nước mênh mông đã gợi tâm trạng độc thân lạc lõng của một cái tôi trữ tình giàu nhạy cảm.

Nỗi lòng đấy được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của ko gian lạnh lẽo:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió quạnh quẽ

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”

Hai từ láy “lơ thơ” và “quạnh quẽ” được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một dòng thơ đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. “Lơ thơ” gợi sự ít ỏi, nhỏ nhỏ “quạnh quẽ” lại gợi sự quạnh quẽ. Giữa quang cảnh “cồn nhỏ”, gió thì “quạnh quẽ”, một quang cảnh lạnh lẽo, tiêu điều đấy, con người trở thành cô quạnh tới độ thốt lên “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Chỉ một câu thơ nhưng mang nhiều sắc thái, vừa gợi “đâu đó”, âm thanh xa xôi, ko rõ rệt, có thể là câu hỏi “đâu” như một nỗi niềm khát khao, mong mỏi của thi sĩ về một tẹo sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người. Đó cũng có thể là “đâu có”, một sự phủ định hoàn toàn, xung quanh đây chẳng phải có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của tự nhiên.

Đôi mắt nhân vật trữ tình nhìn theo nắng, theo dòng trôi của sông:

“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.

“Nắng xuống, trời lên” gợi sự chuyển động, mở rộng về ko gian, và gợi cả sự chia phôi: bởi nắng và trời nhưng lại tách bạch khỏi nhau. “sâu chót vót” là cảnh diễn tả mới mẻ, đầy thông minh của Huy Cận, mang một nét đẹp hiện đại. Đôi mắt thi sĩ ko chỉ ngừng ở bên ngoài của trời, của nắng, nhưng như xuyên thấu và cả vũ trụ, cả ko gian rộng lớn, vô tận. Cõi tự nhiên đấy quả là mênh mông với “sông dài, trời rộng”, còn những gì thuộc về con người thì lại nhỏ nhỏ, độc thân biết bao: “bến cô liêu”.

Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ xuất hiện qua các thi liệu thân thuộc trong Đường thi như: sông, trời, nắng, cuộc sống con người thì buồn tẻ, chán ngán với “vãn chợ chiều”, mọi thứ đã tan rã, chia phôi.

Nhà thư lại nhìn về dòng sông, nhìn cảnh xung quanh mong mỏi có chút gì thân thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào lạnh giá, về độc thân. Nhưng tự nhiên đã đáp trả sự khát khao đấy bằng những hình ảnh càng quạnh quẽ, quạnh quẽ:

“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng,

Mênh mông ko một chuyến đò ngang.

Không cần gợi chút niềm thân tình,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Hình ảnh mặt nước cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên một cái gì cập kênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời. Nhưng trong thơ Huy Cận ko chỉ có một hay hai mặt nước cánh bèo, nhưng là “hàng nối hàng”. Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngợp trước tự nhiên, để từ đó cõi lòng càng đớn đau, độc thân. Kế bên hàng nối hàng mặt nước cánh bèo là “bờ xanh tiếp bãi vàng” như mở ra một ko gian rộng lớn vô cùng, vô tận, tự nhiên tiếp nối tự nhiên, đường ko có con người, ko có chút sinh hoạt của con người, ko có sự giao hoà, nối kết.

Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định. “…ko …ko” để phủ định hoàn toàn những kết nối của con người. Trước mắt thi sĩ giờ đây ko có chút gì gợi niềm thân tình để kéo mình ra khỏi nỗi độc thân đang bao trùm, vây kín, chỉ có một tự nhiên mênh mông, mênh mông. Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao ước của con người, dường như đã bị cõi tự nhiên nhấn chìm, trôi đi nơi nào.

Cái tôi trữ tình càng trở thành lạc lõng giữa dòng sông ko một chuyến đò, xung quanh chỉ là những mặt nước cánh bèo trôi dạt. Vừa có ý tả cảnh, nhưng đồng thời thi sĩ cũng như đang ví mình giống như mặt nước cánh bèo kia: trôi nổi, vô định. Cảnh vật đã mang chút sắc màu xanh tươi: “bờ xanh”, “bãi vàng” nhưng cũng vẫn còn hoang vu. Nỗi mong mỏi lớn nhất của Huy Cận lúc này đây là được giao cảm, trò chuyện nhưng ko một người nào “gợi chút niềm thân tình”. Cái tôi trữ tình trở thành độc thân, lạc lõng. Từ đó, thi sĩ bộc bạch nỗi niềm thầm kín:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa,”

Giữa quang cảnh tự nhiên hung vĩ, cánh chim bay giữa trời trong buổi chiều tà như bị xơi tái bởi ko gian rộng lớn đó. Dường nhưu ko gian càng rộng lớn lại càng khiến ông cảm thấy rợn ngợp bấy nhiêu.

“Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

Khát khao lớn nhất của cái tôi trữ tình giờ mới được bộc lộ: đó là niềm mong ước, khát khao trở về với quê hương. Bài thơ lúc này bỗng trở thành thấm đượm tình yêu quốc gia.

Mang chất liệu cổ điển tới với thơ mới, Huy Cận đã mang lại cho người đọc một cảm giác vừa lạ vừa thân thuộc. Khác với cái tôi trữ tình của Xuân Diệu, cái tôi trữ tình của Huy Cận chất chứa những nỗi buồn, nhớ nhung da diết về quê hương quốc gia. Nó cho tháy một tình yêu quê hương âm ỉ trong trái tim của người thi sĩ tài năng này.

3.2. Bài văn mẫu số 2

Trong phong trào thơ mới và trong cả nền văn học Việt Nam hiện đại, Xuân Diệu và Huy Cận đều là hai thi sĩ lớn, những tên tuổi hàng đầu có những đóng góp to lớn cho nền văn học của nước nhà. Hai thi sĩ này lại chính là những người bạn thân thiết, tới độ tri kỉ, tri kỷ thế nhưng mỗi một thi sĩ lại có riêng cho mình một nỗi ám ảnh, một niềm suy tư riêng về cuộc đời. Nếu như Xuân Diệu suốt một đời thơ cứ mang một nỗi ám ảnh thời kì, thiết tha với một lòng nồng nàn mến thương cuộc sống đầy rộn rực, cháy bỏng. Thì Huy Cận trong những năm trước cách mệnh lại thường mang một nỗi ám ảnh ko gian, với tâm hồn đa sầu, đa cảm, thơ của ông luôn chất chứa những nỗi buồn thế sự, mênh mang của một cái tôi trữ tình chơ vơ, lạc lõng trước thời cuộc rối ren. Và cái tôi trữ tình buồn chán, đầy ám ảnh ko gian đấy hiện lên thật rõ ràng trong bài thơ Tràng giang, bài thơ đã đưa tên tuổi của Huy Cận vụt sáng thành một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ mới thời đoạn 1932-1941.

Huy Cận (1919-2005), tên khai sinh là Cù Huy Cận, ông vừa là một chính khách có nhiều năm hoạt động trong bộ máy nhà nước đồng thời cũng là một thi sĩ xuất sắc của phong trào Thơ mới. Trước Cách mệnh thơ của ông đẹp nhưng thường mang những nỗi buồn da diết vô định của một cái tôi trữ tình đầy sầu não trước trời đất rộng lớn, đó là những buồn thương cho kiếp người, cho cuộc đời, buồn thương cho hoạt cảnh quốc gia đầy rối ren, phức tạp, là sự bất lực của người thi sĩ. Sau cách mệnh thơ của ông như được thay một ý thức mới, vui tươi sáng sủa, ngợi ca vẻ đẹp của quê hương, quốc gia, con người, và vẫn là những vẻ đẹp của tự nhiên rộng lớn rộng lớn được ông chú ý ngợi ca nhiều hơn cả. Một số tác phẩm tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận phải kể tới như tập Lửa thiêng, Vũ trụ ca, Trời mỗi ngày lại sáng.

Tràng giang trích trong tập Lửa thiêng, lấy cảm hứng cảnh mênh mông sóng nước của sông Hồng liên kết với cái tôi trữ tình đầy sầu thương, đa cảm, chất thơ vừa cổ điển của thơ Đường lại xen lẫn hiện đại của văn học Pháp, đã ghi lại phong cách của thi sĩ trước một rừng các thi sĩ mới cùng thời. Đồng thời trình bày được những nỗi lòng thầm kín của mình về cuộc đời, về kiếp người chơ vơ, lạc lõng giữa dòng đời như dòng nước mênh mang, qua đó trình bày tấm lòng yêu quê hương quốc gia lặng thầm, thâm thúy.

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Nét buồn chán, độc thân của cái tôi trữ tình đã hiển hiện ngay ở những dòng thơ trước nhất. Nhà thơ đã quyết tâm tìm kiếm những sự vật để khỏa lấp đi cái bâng khuâng trước quang cảnh trời rộng, sông dài ở trên. Nhưng ngoại cảnh lại hiện lên với sóng gợn, thuyền xuôi, củi lạc quá nhỏ nhỏ, đối lập với một tràng giang mênh mông, rộng lớn. Đoạn thơ dường như đã gói ghém quá nhiều nỗi sầu ở trong đó. Có con sóng gợn nhỏ, lăn tăn nhưng được nhân hóa buồn điệp điệp như thể sóng lòng buồn chán đã lan tỏa khắp trên mặt sông. Có con thuyền nhưng lại chẳng phải gắn kết với nước, từ láy song song như càng đẩy nó tự buông trôi, phó mặc tạo ra mối sầu trăm ngả. Nhưng đặc trưng hơn cả là bao tâm tư của cái tôi trữ tình lại gửi gắm vào hình ảnh củi một cành khô ở cuối khổ. Khác hẳn với hai thi liệu cổ trước đó, củi là một hình ảnh rất hiện đại. Nó là vật rất đỗi đời thường, chẳng còn sức sống đã trở thành quá nhỏ nhỏ qua số từ một và càng trở thành lạc lõng lúc biến động, vô phương trước mấy dòng. Nỗi sầu độc thân đã đẩy cao hơn thành sự chơ vơ, trơ trọi của một thân phận, một kiếp người trôi nổi, cập kênh.

Cái tôi cố tìm kiếm xa hơn, rộng hơn, phải chăng để khỏa lấp đi cái điệu hồn mỏng manh đấy. Nhưng đúng như Hoài Thanh nói, càng sâu càng lạnh, cái tôi bị choáng ngợp trước một ko gian đã mở rộng tới tận cùng của vũ trụ:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió quạnh quẽ

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu”

Có cồn nhỏ, có làng xa nhưng chẳng phải êm ấm. Hai từ láy lơ thơ, quạnh quẽ càng làm chiếc cồn nhỏ đấy thêm cô quạnh, tiêu sơ. Chút âm thanh của sự sống dẫu có thì cũng xa xôi lại còn thêm phần u ám, buồn chán vì nó là tiếng vãn chợ chiều. Không gian trải rộng nhưng vắng lặng, tịch mịch càng chất chứa nỗi lòng buồn chán, độc thân của thi nhân. Nhưng đúng như những gì chúng ta hay nói về Huy Cận, cái tôi trong thơ ông là cái tôi mang nỗi sầu vũ trụ đã tích tụ cả nghìn năm. Vì thế chẳng có một ko gian nào thích hợp bằng ko gian vũ trụ để chuyển tải hết nỗi buồn, độc thân của thi sĩ. Hai câu thơ cuối trong khổ thơ này đã khắc họa điều đấy. Nắng với trời như đang cố tình đẩy ngược nhau xuống – lên để tạo thành một chiều kích chưa bao giờ có – sâu chót vót. Ngoài việc khẳng định sự thông minh lạ mắt của thi sĩ, có thể thấy từ ngữ này đã lột tả hết thảy cái cao tới tột cùng nhưng sâu cũng tới tột cùng của quang cảnh. Lại thêm cái dài, cái rộng của sông, của trời nửa, thế là trọn vẹn hết cả cái ba chiều trong vòng ko của vũ trụ rộng lớn. Cồn nhỏ, làng xa bỗng dưng lại trở thành quá nhỏ nhỏ, cái tôi trữ tình cũng nhỏ nhỏ như thế, cố vớt vát, bám víu lấy bến cô liêu ko mấy lớn lao nhưng còn hoang vắng, trống vắng. Duy chỉ có một thứ đã căng tràn, chạm tới mọi ngóc ngóc của ko gian vũ trụ kia – đó là nỗi buồn. Cái tôi của thi sĩ dường như cố tình trốn tránh, nhưng dẫu nhỏ nhỏ tới đâu thì nỗi buồn đã hóa thành nỗi sầu vũ trụ không thể giấu giếm được nữa.

Ông cô độc trong chính cuộc sống của mình, tự nhiên bao trùm lên là một nỗi buồn ko biết san sẻ cùng người nào. Đây chính là một sự cảm nhận khác lạ của Huy Cận về tự nhiên, tiêu biểu cho phong cách thơ ông trước cách mệnh tháng Tám.

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông ko một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân tình

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Hình ảnh những mặt nước cánh bèo nổi trôi vô định trên dòng sông dường như làm cho tâm hồn tác giả thêm buồn mênh mông. Huy Cận khát khao được mến thương, được bao bọc nhưng tự nhiên hờ hững, lòng người lạnh nhạt khiến chính thi sĩ rơi vào thất vọng.

Khổ cuối cùng của bài thơ dường như đẩy lên đỉnh điểm cái “tôi” nhân vật rất đặc trưng của Huy Cận:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Tâm tình nhớ nước, thương nhà thầm kín làm cho chính bản thân tác giả rơi vào thất vọng và hoang mang. Người đọc tưởng tượng được quang cảnh “chiều sa” ở đây chới với tới não nùng. Tâm tình và tình cảm ko biết gửi gắm cùng người nào, chỉ thấy buồn và sầu mênh mông.

Huy Cận với tấm lòng đa sầu đa cảm gửi gắm trong những vần thơ buồn làm cho chính mình hụt hẫng, chới với. Nỗi buồn đan tiếp nỗi buồn, hòa vào tự nhiên đất trời dư vị cuộc sống buồn và nhạt. Như vậy cái tôi trữ tình của Huy Cận trong bài thơ “Tràng Giang” khiến người đọc thổn thức và đồng cảm.

—–Mod Ngữ văn biên soạn và tổng hợp—–

.


Thông tin thêm

Phân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giang của Huy Cận

[rule_3_plain]

Phân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giang của Huy Cận là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học trò lớp 11, nhằm giúp các em học trò biết lập dàn ý lúc làm văn, nắm được các nội dung trọng tâm tránh đi lạc đề. Đồng thời giúp quý thầy cô sẽ tiết kiệm thời kì lúc tìm tài liệu tham khảo, các em có thêm nhiều ý tưởng lúc viết văn. Cùng Học247 tham khảo nhé! Ngoài ra, để làm phong phú thêm tri thức cho bản thân, các em có thể tham khảo thêm bài giảng Tràng giang.

1. Sơ đồ tóm tắt gợi ý

2. Dàn bài cụ thể

a. Mở bài:

– Trước cách mệnh, thơ Huy Cận chất chứa những nỗi buồn thế sự, mênh mang của một cái tôi trữ tình chơ vơ, lạc lõng trước thời cuộc rối ren.

– Cái tôi trữ tình buồn chán, đầy ám ảnh ko gian đấy hiện lên thật rõ ràng trong bài thơ Tràng giang.

b. Thân bài:

* Cái tôi trữ tình trong nhan đề và lời đề từ:

– Cái tôi mang đầy nỗi độc thân lạc lõng, đó là tâm hồn của một con người nhỏ nhỏ, một thanh niên trẻ tuổi nhưng đa sầu, đa cảm.

– Nhan đề “Tràng giang” gợi ra ko gian rộng lớn, rộng lớn của vũ trụ, mang đậm sắc thái cổ điển, càng tô đậm nên cái nỗi buồn của người thi sĩ, nỗi cô tịch, hồi ức về quá khứ với chiều sâu của mấy nghìn năm lịch sử huy hoàng.

– “Tràng giang” chỉ mọi con sông trên đất Việt, cũng là chỉ nỗi buồn chung của lớp những con người trước một thời đại rối ren, phức tạp.

– Lời đề từ mở ra xúc cảm chủ đạo của bài thơ viết về một ko gian rộng lớn mang tầm vóc vũ trụ, thức dậy những xúc cảm bâng khuâng, những nỗi nhớ vô định hình của một hồn thơ cô độc, lẻ loi giữa trời đất rộng lớn, mênh mang, trước cái lạnh lẽo nhưng sông nước mang tới.

* Khổ thơ 1:

– Nỗi buồn của Huy Cận ko dồn dập, mãnh liệt là trái lại êm đềm, gợn nhẹ như những cơn sóng nhỏ của tràng giang, có tính chất tuần hoàn “buồn điệp điệp”.

– Hình ảnh thuyền nước là một thi liệu thân thuộc trong văn học cổ điển, thế nhưng trong thơ Huy Cận lại gợi ra nỗi buồn chia ly, tan tác “sầu trăm ngả”.

– Hình ảnh củi khô là một hình ảnh hiện đại, mới mẻ ẩn dụ cho những kiếp người lạc lõng, ko có sức nặng mặc cho dòng đời đẩy đưa một cách chán ngán.

* Khổ thơ 2:

– Huy Cận tìm kiếm hơi ấm ở một điểm nhìn xa hơn, rộng hơn, nhưng cảnh những cồn cát “lơ thơ”, những ngọn gió “quạnh quẽ” lại càng làm cho tâm hồn thi nhân thêm se sắt, quạnh quẽ.

– Tiếng chợ chiều của làng xa càng tô đậm thâm cái ko gian vắng vẻ, im lìm tới ám ảnh và nỗi độc thân, lẻ loi của tác giả trước cảnh sông nước mênh mông.

– “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót/Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” một lần nữa lại càng tô đậm cái ko gian rộng lớn, nhấn mạnh cái sự xa cách của trời và đất, của sông và bến, bằng những tiểu đối lạ mắt và mới mẻ, dường như mọi vật trong vũ trụ đều trở thành xa cách nhau, chúng cũng lẻ bóng như chính cái tâm hồn đơn độc của nhân vật trữ tình.

* Khổ thơ 3:

– Thi liệu thân thuộc “bèo” xuất hiện trong thơ Huy Cận lại mang một tầng nghĩa khác, chỉ những cuộc đời lênh đênh, vô định bỏ mặc cho dòng nước đẩy đưa, là sự buông xuôi chấp nhận của một loạt những con người đương thời.

– Huy Cận càng thêm độc thân, lạc lõng lúc cố dõi mắt tìm kiếm một “chuyến đò ngang” nhưng ko thấy, chỉ thấy ko gian rộng lớn càng mở ra với “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.

* Khổ thơ 4:

– Khung cảnh “mây cao đùn núi bạc” tiếp tục kéo dãn, mở rộng thêm khoảng ko vũ trụ rộng lớn, càng thu nhỏ tâm hồn thi nhân, làm thi nhân càng trở thành chơ vơ, lạc lõng hơn.

– Hình ảnh cánh chim nhỏ chính là tượng trưng cho tâm hồn thi sĩ, nhỏ nhỏ, nghiêng cánh muốn tìm chốn nương về nhưng khốn nỗi cả trời đất rộng lớn nhưng chẳng thấy một nhành cây dẫu bóng chiều đã dần sa xuống.

– Từ hoạt cảnh đấy, nỗi niềm nhớ quê hương tha thiết lại tràn về, ngập đầy trong tâm hồn thi sĩ, đó chính là nỗi buồn chung của cả một thế hệ, là nỗi buồn nước mất nhà tan, là niềm suy tưởng về một tổ quốc mấy nghìn năm văn hiến người hùng nay bỗng trở thành quốc gia nô lệ, chịu cảnh rối ren.

– Thi nhân càng nghĩ lại càng thấy đau xót, chán ngán, thấy muốn buông bỏ trong sự bất lực trước thời đại.

c. Kết bài:

– Cái tôi trữ tình trong bài thơ đó là một cái tôi thật lẻ loi, cô độc mang những nỗi sầu, những cảm giác bất lực, thất vọng trước những đớn đau của quê hương quốc gia, nhưng một thi nhân với lòng yêu quê hương, quốc gia thâm thúy như Huy Cận lại phải chịu cảnh khoanh tay, trơ mắt ếch nhìn quốc gia ngày càng tàn tạ, rối ren.

3. Bài văn mẫu

Đề bài: Em hãy phân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giang của Huy Cận bằng một bài văn ngắn.

GỢI Ý LÀM BÀI

3.1. Bài văn mẫu số 1

Trong thơ Huy Cận trước Cách mệnh tháng Tám năm 1945, tự nhiên rất đẹp, quyến rũ nhưng nó thường phủ bởi một nỗi buồn. Tổ quốc, tự nhiên trong bài thơ Tràng giang cũng thấm sâu một nỗi buồn như thế. Bài thơ trình bày tâm trạng của “cái tôi trữ tình” độc thân, thấm đượm nỗi sầu nhân thế trước tự nhiên mênh mông, hiu quạnh và tấm lòng yêu nước thầm kín của Huy Cận.

Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận trước Cách mệnh tháng Tám. Bài thơ được trích từ tập “Lửa thiêng”, được sáng tác lúc Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng, nhìn cảnh mênh mông sóng nước, lòng vời vợi buồn, cám cảnh cho kiếp người nhỏ nhỏ, nổi trôi giữa dòng đời vô định. Mang nỗi u buồn hoài như thế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, mang lại sự thích thú, yêu quý cho người đọc.

Nhan đề và lời đề tự đã thâu tóm xúc cảm xúc cảm chủ đạo của cả bài thơ. Từ Hán Việt “tràng giang” với vần “ang” tạo sự lan tỏa tới mọi khía cạnh của ko gian. Bài thơ mở đầu bằng cảnh sông nước mênh mông vô tận:

“Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song.”

Từ láy “điệp điệp” gợi xúc cảm buồn vô tận của lòng người, “song song” gợi ta liên tưởng tới những đợt sóng trải dài. Nỗi buồn của cái tôi trữ tình cứ thế trải dài theo sông nước triền miên, trùng trùng lớp lớp tiếp nối nhau vô tận.

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng.”

Con thuyền cùng dòng nước vốn thương bên nhau nhưng nay cũng có sự xa cách: Thuyền đi để nước ở lại. Cành củi nhỏ ko biết đi đâu về đâu để rồi lại trôi nổi tới “lạc”. Cảnh sông nước mênh mông đã gợi tâm trạng độc thân lạc lõng của một cái tôi trữ tình giàu nhạy cảm.

Nỗi lòng đấy được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của ko gian lạnh lẽo:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió quạnh quẽ

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”

Hai từ láy “lơ thơ” và “quạnh quẽ” được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một dòng thơ đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. “Lơ thơ” gợi sự ít ỏi, nhỏ nhỏ “quạnh quẽ” lại gợi sự quạnh quẽ. Giữa quang cảnh “cồn nhỏ”, gió thì “quạnh quẽ”, một quang cảnh lạnh lẽo, tiêu điều đấy, con người trở thành cô quạnh tới độ thốt lên “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Chỉ một câu thơ nhưng mang nhiều sắc thái, vừa gợi “đâu đó”, âm thanh xa xôi, ko rõ rệt, có thể là câu hỏi “đâu” như một nỗi niềm khát khao, mong mỏi của thi sĩ về một tẹo sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người. Đó cũng có thể là “đâu có”, một sự phủ định hoàn toàn, xung quanh đây chẳng phải có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của tự nhiên.

Đôi mắt nhân vật trữ tình nhìn theo nắng, theo dòng trôi của sông:

“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.

“Nắng xuống, trời lên” gợi sự chuyển động, mở rộng về ko gian, và gợi cả sự chia phôi: bởi nắng và trời nhưng lại tách bạch khỏi nhau. “sâu chót vót” là cảnh diễn tả mới mẻ, đầy thông minh của Huy Cận, mang một nét đẹp hiện đại. Đôi mắt thi sĩ ko chỉ ngừng ở bên ngoài của trời, của nắng, nhưng như xuyên thấu và cả vũ trụ, cả ko gian rộng lớn, vô tận. Cõi tự nhiên đấy quả là mênh mông với “sông dài, trời rộng”, còn những gì thuộc về con người thì lại nhỏ nhỏ, độc thân biết bao: “bến cô liêu”.

Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ xuất hiện qua các thi liệu thân thuộc trong Đường thi như: sông, trời, nắng, cuộc sống con người thì buồn tẻ, chán ngán với “vãn chợ chiều”, mọi thứ đã tan rã, chia phôi.

Nhà thư lại nhìn về dòng sông, nhìn cảnh xung quanh mong mỏi có chút gì thân thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào lạnh giá, về độc thân. Nhưng tự nhiên đã đáp trả sự khát khao đấy bằng những hình ảnh càng quạnh quẽ, quạnh quẽ:

“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng,

Mênh mông ko một chuyến đò ngang.

Không cần gợi chút niềm thân tình,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Hình ảnh mặt nước cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên một cái gì cập kênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời. Nhưng trong thơ Huy Cận ko chỉ có một hay hai mặt nước cánh bèo, nhưng là “hàng nối hàng”. Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngợp trước tự nhiên, để từ đó cõi lòng càng đớn đau, độc thân. Kế bên hàng nối hàng mặt nước cánh bèo là “bờ xanh tiếp bãi vàng” như mở ra một ko gian rộng lớn vô cùng, vô tận, tự nhiên tiếp nối tự nhiên, đường ko có con người, ko có chút sinh hoạt của con người, ko có sự giao hoà, nối kết.

Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định. “…ko …ko” để phủ định hoàn toàn những kết nối của con người. Trước mắt thi sĩ giờ đây ko có chút gì gợi niềm thân tình để kéo mình ra khỏi nỗi độc thân đang bao trùm, vây kín, chỉ có một tự nhiên mênh mông, mênh mông. Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao ước của con người, dường như đã bị cõi tự nhiên nhấn chìm, trôi đi nơi nào.

Cái tôi trữ tình càng trở thành lạc lõng giữa dòng sông ko một chuyến đò, xung quanh chỉ là những mặt nước cánh bèo trôi dạt. Vừa có ý tả cảnh, nhưng đồng thời thi sĩ cũng như đang ví mình giống như mặt nước cánh bèo kia: trôi nổi, vô định. Cảnh vật đã mang chút sắc màu xanh tươi: “bờ xanh”, “bãi vàng” nhưng cũng vẫn còn hoang vu. Nỗi mong mỏi lớn nhất của Huy Cận lúc này đây là được giao cảm, trò chuyện nhưng ko một người nào “gợi chút niềm thân tình”. Cái tôi trữ tình trở thành độc thân, lạc lõng. Từ đó, thi sĩ bộc bạch nỗi niềm thầm kín:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa,”

Giữa quang cảnh tự nhiên hung vĩ, cánh chim bay giữa trời trong buổi chiều tà như bị xơi tái bởi ko gian rộng lớn đó. Dường nhưu ko gian càng rộng lớn lại càng khiến ông cảm thấy rợn ngợp bấy nhiêu.

“Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

Khát khao lớn nhất của cái tôi trữ tình giờ mới được bộc lộ: đó là niềm mong ước, khát khao trở về với quê hương. Bài thơ lúc này bỗng trở thành thấm đượm tình yêu quốc gia.

Mang chất liệu cổ điển tới với thơ mới, Huy Cận đã mang lại cho người đọc một cảm giác vừa lạ vừa thân thuộc. Khác với cái tôi trữ tình của Xuân Diệu, cái tôi trữ tình của Huy Cận chất chứa những nỗi buồn, nhớ nhung da diết về quê hương quốc gia. Nó cho tháy một tình yêu quê hương âm ỉ trong trái tim của người thi sĩ tài năng này.

3.2. Bài văn mẫu số 2

Trong phong trào thơ mới và trong cả nền văn học Việt Nam hiện đại, Xuân Diệu và Huy Cận đều là hai thi sĩ lớn, những tên tuổi hàng đầu có những đóng góp to lớn cho nền văn học của nước nhà. Hai thi sĩ này lại chính là những người bạn thân thiết, tới độ tri kỉ, tri kỷ thế nhưng mỗi một thi sĩ lại có riêng cho mình một nỗi ám ảnh, một niềm suy tư riêng về cuộc đời. Nếu như Xuân Diệu suốt một đời thơ cứ mang một nỗi ám ảnh thời kì, thiết tha với một lòng nồng nàn mến thương cuộc sống đầy rộn rực, cháy bỏng. Thì Huy Cận trong những năm trước cách mệnh lại thường mang một nỗi ám ảnh ko gian, với tâm hồn đa sầu, đa cảm, thơ của ông luôn chất chứa những nỗi buồn thế sự, mênh mang của một cái tôi trữ tình chơ vơ, lạc lõng trước thời cuộc rối ren. Và cái tôi trữ tình buồn chán, đầy ám ảnh ko gian đấy hiện lên thật rõ ràng trong bài thơ Tràng giang, bài thơ đã đưa tên tuổi của Huy Cận vụt sáng thành một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ mới thời đoạn 1932-1941.

Huy Cận (1919-2005), tên khai sinh là Cù Huy Cận, ông vừa là một chính khách có nhiều năm hoạt động trong bộ máy nhà nước đồng thời cũng là một thi sĩ xuất sắc của phong trào Thơ mới. Trước Cách mệnh thơ của ông đẹp nhưng thường mang những nỗi buồn da diết vô định của một cái tôi trữ tình đầy sầu não trước trời đất rộng lớn, đó là những buồn thương cho kiếp người, cho cuộc đời, buồn thương cho hoạt cảnh quốc gia đầy rối ren, phức tạp, là sự bất lực của người thi sĩ. Sau cách mệnh thơ của ông như được thay một ý thức mới, vui tươi sáng sủa, ngợi ca vẻ đẹp của quê hương, quốc gia, con người, và vẫn là những vẻ đẹp của tự nhiên rộng lớn rộng lớn được ông chú ý ngợi ca nhiều hơn cả. Một số tác phẩm tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận phải kể tới như tập Lửa thiêng, Vũ trụ ca, Trời mỗi ngày lại sáng.

Tràng giang trích trong tập Lửa thiêng, lấy cảm hứng cảnh mênh mông sóng nước của sông Hồng liên kết với cái tôi trữ tình đầy sầu thương, đa cảm, chất thơ vừa cổ điển của thơ Đường lại xen lẫn hiện đại của văn học Pháp, đã ghi lại phong cách của thi sĩ trước một rừng các thi sĩ mới cùng thời. Đồng thời trình bày được những nỗi lòng thầm kín của mình về cuộc đời, về kiếp người chơ vơ, lạc lõng giữa dòng đời như dòng nước mênh mang, qua đó trình bày tấm lòng yêu quê hương quốc gia lặng thầm, thâm thúy.

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Nét buồn chán, độc thân của cái tôi trữ tình đã hiển hiện ngay ở những dòng thơ trước nhất. Nhà thơ đã quyết tâm tìm kiếm những sự vật để khỏa lấp đi cái bâng khuâng trước quang cảnh trời rộng, sông dài ở trên. Nhưng ngoại cảnh lại hiện lên với sóng gợn, thuyền xuôi, củi lạc quá nhỏ nhỏ, đối lập với một tràng giang mênh mông, rộng lớn. Đoạn thơ dường như đã gói ghém quá nhiều nỗi sầu ở trong đó. Có con sóng gợn nhỏ, lăn tăn nhưng được nhân hóa buồn điệp điệp như thể sóng lòng buồn chán đã lan tỏa khắp trên mặt sông. Có con thuyền nhưng lại chẳng phải gắn kết với nước, từ láy song song như càng đẩy nó tự buông trôi, phó mặc tạo ra mối sầu trăm ngả. Nhưng đặc trưng hơn cả là bao tâm tư của cái tôi trữ tình lại gửi gắm vào hình ảnh củi một cành khô ở cuối khổ. Khác hẳn với hai thi liệu cổ trước đó, củi là một hình ảnh rất hiện đại. Nó là vật rất đỗi đời thường, chẳng còn sức sống đã trở thành quá nhỏ nhỏ qua số từ một và càng trở thành lạc lõng lúc biến động, vô phương trước mấy dòng. Nỗi sầu độc thân đã đẩy cao hơn thành sự chơ vơ, trơ trọi của một thân phận, một kiếp người trôi nổi, cập kênh.

Cái tôi cố tìm kiếm xa hơn, rộng hơn, phải chăng để khỏa lấp đi cái điệu hồn mỏng manh đấy. Nhưng đúng như Hoài Thanh nói, càng sâu càng lạnh, cái tôi bị choáng ngợp trước một ko gian đã mở rộng tới tận cùng của vũ trụ:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió quạnh quẽ

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu”

Có cồn nhỏ, có làng xa nhưng chẳng phải êm ấm. Hai từ láy lơ thơ, quạnh quẽ càng làm chiếc cồn nhỏ đấy thêm cô quạnh, tiêu sơ. Chút âm thanh của sự sống dẫu có thì cũng xa xôi lại còn thêm phần u ám, buồn chán vì nó là tiếng vãn chợ chiều. Không gian trải rộng nhưng vắng lặng, tịch mịch càng chất chứa nỗi lòng buồn chán, độc thân của thi nhân. Nhưng đúng như những gì chúng ta hay nói về Huy Cận, cái tôi trong thơ ông là cái tôi mang nỗi sầu vũ trụ đã tích tụ cả nghìn năm. Vì thế chẳng có một ko gian nào thích hợp bằng ko gian vũ trụ để chuyển tải hết nỗi buồn, độc thân của thi sĩ. Hai câu thơ cuối trong khổ thơ này đã khắc họa điều đấy. Nắng với trời như đang cố tình đẩy ngược nhau xuống – lên để tạo thành một chiều kích chưa bao giờ có – sâu chót vót. Ngoài việc khẳng định sự thông minh lạ mắt của thi sĩ, có thể thấy từ ngữ này đã lột tả hết thảy cái cao tới tột cùng nhưng sâu cũng tới tột cùng của quang cảnh. Lại thêm cái dài, cái rộng của sông, của trời nửa, thế là trọn vẹn hết cả cái ba chiều trong vòng ko của vũ trụ rộng lớn. Cồn nhỏ, làng xa bỗng dưng lại trở thành quá nhỏ nhỏ, cái tôi trữ tình cũng nhỏ nhỏ như thế, cố vớt vát, bám víu lấy bến cô liêu ko mấy lớn lao nhưng còn hoang vắng, trống vắng. Duy chỉ có một thứ đã căng tràn, chạm tới mọi ngóc ngóc của ko gian vũ trụ kia – đó là nỗi buồn. Cái tôi của thi sĩ dường như cố tình trốn tránh, nhưng dẫu nhỏ nhỏ tới đâu thì nỗi buồn đã hóa thành nỗi sầu vũ trụ không thể giấu giếm được nữa.

Ông cô độc trong chính cuộc sống của mình, tự nhiên bao trùm lên là một nỗi buồn ko biết san sẻ cùng người nào. Đây chính là một sự cảm nhận khác lạ của Huy Cận về tự nhiên, tiêu biểu cho phong cách thơ ông trước cách mệnh tháng Tám.

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông ko một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân tình

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Hình ảnh những mặt nước cánh bèo nổi trôi vô định trên dòng sông dường như làm cho tâm hồn tác giả thêm buồn mênh mông. Huy Cận khát khao được mến thương, được bao bọc nhưng tự nhiên hờ hững, lòng người lạnh nhạt khiến chính thi sĩ rơi vào thất vọng.

Khổ cuối cùng của bài thơ dường như đẩy lên đỉnh điểm cái “tôi” nhân vật rất đặc trưng của Huy Cận:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Tâm tình nhớ nước, thương nhà thầm kín làm cho chính bản thân tác giả rơi vào thất vọng và hoang mang. Người đọc tưởng tượng được quang cảnh “chiều sa” ở đây chới với tới não nùng. Tâm tình và tình cảm ko biết gửi gắm cùng người nào, chỉ thấy buồn và sầu mênh mông.

Huy Cận với tấm lòng đa sầu đa cảm gửi gắm trong những vần thơ buồn làm cho chính mình hụt hẫng, chới với. Nỗi buồn đan tiếp nỗi buồn, hòa vào tự nhiên đất trời dư vị cuộc sống buồn và nhạt. Như vậy cái tôi trữ tình của Huy Cận trong bài thơ “Tràng Giang” khiến người đọc thổn thức và đồng cảm.

—–Mod Ngữ văn biên soạn và tổng hợp—–

Cảm nhận về khổ thơ trước nhất trong Tràng giang của Huy Cận

1465

Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong Tràng giang của Huy Cận

516

Cảm nhận cái tôi trữ tình trong Tràng giang của Huy Cận

462

Cảm nhận bức tranh tự nhiên trong bài Tràng giang của Huy Cận

636

Phân tích hai khổ thơ đầu bài thơ Tràng Giang

46917

Phân tích khổ cuối bài thơ Tràng giang của Huy Cận

22655

[rule_2_plain]

#Phân #tích #cái #tôi #trữ #tình #trong #bài #Tràng #giang #của #Huy #Cận


  • Tổng hợp: Thư Viện Hỏi Đáp
  • Nguồn: https://hoc247.net/tu-lieu/phan-tich-cai-toi-tru-tinh-trong-bai-trang-giang-cua-huy-can-doc35945.html
Back to top button