Tài Liệu

Công văn 1402/GDĐT-KTKĐCLGD

Vào ngày 18/05/2020 Sở Giáo dục và Tập huấn thị thành Hồ Chính minh đã ban hành Công văn 1402/GDĐT-KTKĐCLGD về việc hướng dẫn tuyển sinh vào lớp 10. Hiệu lực của văn bản pháp luật này sẽ diễn ra từ ngày được ban hành chính thức. Sau đây, chúng tôi xin mời các bạn cùng tham khảo nội dung cụ thể của công văn này.

ỦY BAN NHÂN DÂN THANH PHÔ HỒ CHÍ MINH
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

——-
Số: 1402/GDĐT-KTKĐCLGD
Về hướng dẫn thi tuyển vào lớp 10 trung học phổ thông năm học 2020 – 2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Thành phố Hồ Chí Minh,ngày 18 tháng 5 năm 2020

Kính gửi:

– Trưởng phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện;
– Hiệu trưởng trường trung học phổ thông;
– Giám đốc trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên;
– Giám đốc trung tâm Giáo dục thường xuyên;
– Hiệu trưởng trường có phân hiệu Bổ túc văn hóa.

Căn cứ Thông tư số 11/2014/TT-BGDĐT ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Tập huấn về việc ban hành Quy chế tuyển sinh trung học cơ sở và tuyển sinh trung học phổ thông;

Căn cứ Thông tư số 05/2018/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 02 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Tập huấn về việc sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2, khoản 2 Điều 4, điểm d khoản 1 và đoạn đầu khoản 2 Điều 7 của Quy chế tuyển sinh trung học cơ sở và tuyển sinh trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 11/2014/TT-BGDĐT ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Tập huấn;

Căn cứ Quyết định số 1557/QĐ-UBND ngày 12 tháng 5 năm 2020 của Ủy ban nhân dân thị thành về ban hành Kế hoạch huy động trẻ ra lớp và tuyển sinh vào các lớp đầu cấp từ năm học 2020 – 2021.

Sở Giáo dục và Tập huấn hướng dẫn việc thi tuyển vào lớp 10 trung học phổ thông năm học 2020 – 2021 như sau:

Trưởng phòng Giáo dục và Tập huấn, Hiệu trưởng trường trung học phổ thông, Hiệu trưởng trường trung học cơ sở, Giám đốc trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên, Giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên, Hiệu trưởng trường có phân hiệu bổ túc văn hóa (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng trường phổ thông) cần tổ chức cho toàn thể cán bộ quản lý, thầy cô giáo, học trò, học viên (sau đây gọi chung là học trò) nghiên cứu học tập quy chế tuyển sinh trung học cơ sở và tuyển sinh trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 11/2014/TT-BGDĐT ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Tập huấn, Thông tư số 05/2018/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 02 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Tập huấn về việc sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2, khoản 2 Điều 4, điểm d khoản 1 và đoạn đầu khoản 2 Điều 7 của Quy chế tuyển sinh trung học cơ sở và tuyển sinh trung học phổ thông theo Thông tư số 11/2014/TT-BGDĐT ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Tập huấn (gọi tắt là Quy chế 11), Kế hoạch huy động trẻ ra lớp và tuyển sinh vào các lớp đầu cấp từ năm học 2020 – 2021 theo Quyết định số 1557/QĐ-UBND ngày 12 tháng 5 năm 2020 của Ủy ban nhân dân thị thành (gọi tắt là Kế hoạch 1557) và hướng dẫn này của Sở Giáo dục và Tập huấn.

I. PHƯƠNG THỨC TUYỂN SINH

Thực hiện theo Kế hoạch 1557.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐIỀU KIỆN DỰ TUYỂN

Những học trò đã học lớp 9 tại các trường phổ thông có hồ sơ hợp thức và có đủ các điều kiện sau đây được dự tuyển vào lớp 10 trung học phổ thông:

1. Tốt nghiệp trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Tuổi của học trò vào học lớp 10 là 15 tuổi.

– Đối với những học trò được học vượt lớp ở cấp học trước hoặc học trò vào cấp học ở độ tuổi cao hơn tuổi quy định thì tuổi vào lớp 10 được giảm hoặc tăng căn cứ vào tuổi của năm tốt nghiệp cấp học trước.

– Học trò là người dân tộc thiểu số, học trò khuyết tật, học trò có hoàn cảnh đặc trưng khó khăn, học trò ở nước ngoài về nước có thể vào cấp học ở tuổi cao hơn 3 tuổi so với tuổi quy định.

Sở Giáo dục và Tập huấn ủy nhiệm cho Trưởng phòng Giáo dục và Tập huấn duyệt điều kiện dự tuyển sinh vào lớp 10 của học trò tốt nghiệp trung học cơ sở trên khu vực quận, huyện.

III. HỒ SƠ DỰ TUYỂN

1. Hồ sơ dự tuyển

a. Phiếu đăng ký xét tốt nghiệp trung học cơ sở và thi tuyển vào lớp 10 trung học phổ thông (theo mẫu) (sau đây gọi là Phiếu đăng ký).

b. Ba ảnh 3cm x 4cm (ảnh chụp ko quá 1 năm, kiểu ảnh chứng minh nhân dân, phía sau ảnh ghi rõ họ tên, tháng ngày năm sinh, nơi sinh) (một ảnh dán vào Phiếu đăng ký, một ảnh dán vào phiếu báo danh, một ảnh dán vào phiếu dự thi và rà soát hồ sơ).

c. Học bạ cấp trung học cơ sở (bản chính).

d. Bằng tốt nghiệp trung học cơ sở (bản chính) hoặc giấy chứng thực tốt nghiệp (tạm thời) trong năm dự tuyển do Hiệu trưởng trường phổ thông cấp.

đ. Bản sao khai sinh hợp thức.

e. Giđó chứng thực hợp thức thừa hưởng cơ chế cộng điểm ưu tiên do cơ quan có thẩm quyền cấp.

f. Hồ sơ tuyển thẳng vào lớp 10 trung học phổ thông: ngoài hồ sơ dự tuyển nêu trên, cần bổ sung thêm 02 bản photo công chứng các giấy tờ thuộc diện miễn thi.

2. Xem xét lựa chọn ước vọng:

– Học trò đăng ký 3 ước vọng theo trật tự ưu tiên 1, 2, 3 vào lớp 10 các trường trung học phổ thông công lập thích hợp với năng lực học tập của bản thân, gần nơi trú ngụ để thuận tiện cho việc tiếp tục đi học lúc đã trúng tuyển và giảm sức ép giao thông theo chủ trương của thị thành;

– Học trò đã học tiếng Nhật Ngoại ngữ 1 tại Trường Trung học cơ sở Lê Quý Đôn, Quận 3 và Trường Trung học cơ sở Võ Trường Toản, Quận 1 nếu muốn tiếp tục chọn tiếng Nhật là Ngoại ngữ 1 lúc lên lớp 10, cần đăng ký 3 ước vọng là 3 trường trung học phổ thông (Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn, Trường Trung học phổ thông Trưng Vương, Trường Trung học phổ thông Marie Curie) có tuyển sinh lớp 10 tiếng Nhật Ngoại ngữ 1.

– Học trò đã học tiếng Đức Ngoại ngữ 1 tại Trường Trung học cơ sở Lê Quý Đôn, Quận 3 và Trường Trung học cơ sở Võ Trường Toản, Quận 1 nếu tiếp tục chọn tiếng Đức là Ngoại ngữ 1 lúc lên lớp 10, cần đăng ký ước vọng vào 2 trường trung học phổ thông: Trường Trung học phổ thông Chuyên Trần Đại Nghĩa, Trường Trung học phổ thông Marie Curie.

– Trường Trung học phổ thông Thủ Đức tuyển sinh lớp 10 tiếng Hàn.Việc tuyển sinh vào các lớp 10 tiếng Hàn (Ngoại ngữ 2) được thực hiện trong số học trò đã trúng tuyển vào lớp 10 của trường.

– Học trò học tiếng Pháp thực hiện đúng theo Kế hoạch huy động trẻ ra lớp và tuyển sinh vào các lớp đầu cấp của Ủy ban nhân dân thị thành ban hành.

– Trường Trung học phổ thông năng khiếu Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Sở Văn hóa, Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh ngoài tuyển sinh chung theo tiêu chí của Sở Giáo dục và Tập huấn. Trường có tuyển sinh riêng với điều kiện thí sinh phải có thêm giấy chứng thực là vận động viên các tuyến hoặc thẻ học trò của trường nghiệp vụ Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh.

– Trường Trung học phổ thông chuyên năng khiếu Thể dục thể thao Nguyễn Thị Định; Trường Trung học phổ thông Thể dục thể thao Bình Chánh ngoài tuyển sinh chung theo tiêu chí của Sở Giáo dục và Tập huấn. Ngoài ra, trường còn tuyển sinh riêng theo Kế hoạch 1557.

Đối với học trò học lớp tích hợp thực hiện đúng theo Kế hoạch huy động trẻ ra lớp và tuyển sinh vào các lớp đầu cấp của Ủy ban nhân dân thị thành ban hành. Sở Giáo dục và Tập huấn có văn bản hướng dẫn tuyển sinh 10 chương trình tích hợp.

IV. CHẾ ĐỘ ƯU TIÊN

Thực hiện theo Kế hoạch 1557.

V. THÀNH LẬP BAN CHỈ ĐẠO QUẬN, HUYỆN VÀ HỘI ĐỒNG TUYỂN SINH

– Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện chỉ huy và tổ chức tập huấn cho Hiệu trưởng trường phổ thông và thầy cô giáo chủ nhiệm lớp 9 để tư vấn, hướng dẫn kỹ lưỡng cho phụ huynh học trò và học trò quyết định đăng ký ước vọng (đảm bảo thuận tiện đi lại, thích hợp với hoàn cảnh gia đình và năng lực học tập của bản thân học trò). Thực hiện tốt công việc hướng nghiệp và phân luồng học trò sau trung học cơ sở.

1. Ban Chỉ đạo quận, huyện

Mỗi quận, huyện thành lập Ban Chỉ đạo xét tốt nghiệp và tuyển sinh với thành phần:

– Trưởng ban: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện.

– Phó trưởng ban túc trực: Trưởng phòng Giáo dục và Tập huấn.

– Các ủy viên là lãnh đạo và chuyên viên của Phòng Giáo dục và Tập huấn, các Ban, ngành của quận, huyện có liên quan và Hiệu trưởng trường trung học phổ thông trên khu vực của quận, huyện.

2. Hội đồng tuyển sinh của trường

Mỗi trường trung học phổ thông thành lập một Hội đồng tuyển sinh gồm:

– Chủ tịch: Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng.

– Phó Chủ tịch: Phó Hiệu trưởng.

– Thư ký: chọn từ Thư ký Hội đồng trường hoặc các tổ trưởng chuyên môn.

– Ủy viên: Chủ tịch công đoàn cơ sở, trợ lý thanh niên và chọn trong các tổ trưởng chuyên môn, thầy cô giáo chủ nhiệm, thầy cô giáo dạy các môn học có kinh nghiệm, có phẩm chất đạo đức tốt và có ý thức trách nhiệm cao.

Các trường trung học phổ thông gửi công văn đề xuất danh sách Hội đồng tuyển sinh về Phòng Tổ chức Cán bộ – Sở Giáo dục và Tập huấn để Giám đốc Sở Giáo dục và Tập huấn ra quyết định thành lập Hội đồng tuyển sinh của từng trường.

VI. CÁC CÔNG VIỆC THỰC HIỆN TRONG CÔNG TÁC TUYỂN SINH LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1. Sở Giáo dục và Tập huấn:

– Thông báo Kế hoạch 1557.

– Giới thiệu và thông báo rộng rãi các trường phổ thông và trung cấp trên khu vực thị thành (có tuyển học trò đã tốt nghiệp trung học cơ sở, tên trường, địa chỉ, nội dung giảng dạy, học phí và điều kiện theo học) in thành thông báo cụ thể gửi tới từng phụ huynh học trò lớp 9 để phụ huynh học trò và học trò chọn ghi ước vọng.

– Tổ chức tập huấn cho Ban Chỉ đạo tuyển sinh các quận, huyện, các trường trung học phổ thông, họp báo và thực hiện giao lưu trực tuyến rộng rãi tới phụ huynh học trò và học trò.

– Thực hiện công việc tổ chức thi tuyển vào lớp 10 các trường trung học phổ thông công lập.

– Thông báo kết quả điểm cho học trò.

– Thông báo điểm chuẩn của các trường, lớp chuyên trung học phổ thông.

– Thông báo điểm chuẩn của các trường trung học phổ thông công lập.

2. Ban Chỉ đạo quận, huyện

– Chỉ đạo công việc thanh tra, rà soát công việc tuyển sinh.

– Chỉ đạo và tổ chức tập huấn cho Hiệu trưởng trường phổ thông, thầy cô giáo chủ nhiệm lớp 9 về công việc tuyển sinh lớp 10. Thực hiện tốt công việc hướng nghiệp và phân luồng học trò sau trung học cơ sở.

– Nhận bàn giao Ban Lãnh đạo Điểm thi trên khu vực từ Hội đồng coi thi tuyển sinh 10 Thành phố.

– Ban Chỉ đạo quận, huyện họp các lãnh đạo Điểm thi triển khai công việc coi thi.

– Nhận đề thi từ Hội đồng ra và in sao đề thi; bảo quản đề thi và chuyển đề thi tới Điểm thi từng ngày (theo lịch thi).

– Chuyển giao bài thi về tổ Thư ký tại vị trí chấm thi sau lúc kết thúc các môn thi trong ngày.

3. Phòng Giáo dục và Tập huấn

– Dự tập huấn tại Sở Giáo dục và Tập huấn về công việc xét tốt nghiệp trung học cơ sở và tuyển sinh lớp 10.

– Lập và gửi danh sách cán bộ coi thi, cán bộ chấm thi, viên chức phục vụ tại chỗ (đối với cơ sở giáo dục được chọn làm điểm thi) về Sở Giáo dục và Tập huấn (Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục).

– Thông báo, điều động cán bộ coi thi, cán bộ chấm thi theo chỉ huy của Hội đồng thi tuyển sinh 10 thị thành.

– Kiểm tra và đôn đốc các đơn vị cơ sở cập nhật danh sách học trò đăng ký thi tuyển lớp 10 lên hệ thống để chuyển dữ liệu về cho Sở Giáo dục và Tập huấn. Kiểm tra, rà soát số liệu ước vọng đã đăng ký của học trò trên khu vực đặc trưng các thí sinh đăng ký xa nơi trú ngụ.

– Tổng hợp gửi danh sách và hồ sơ thí sinh tuyển thẳng vào lớp 10 trung học phổ thông về Sở Giáo dục và Tập huấn.

– Chỉ đạo và rà soát các trường việc thực hiện hồ sơ dự thi và điều kiện dự thi của học trò.

– Các Phiếu đăng ký dự tuyển lớp 10 phải được niêm phong bảo quản tốt tại Phòng Giáo dục và Tập huấn, ko gửi về điểm thi; chỉ sau lúc có kết quả trúng tuyển vào lớp 10, Phòng Giáo dục và Tập huấn mới mở niêm phong để trả lại Phiếu đăng ký và kèm vào hồ sơ của học trò.

– Nhận kết quả tuyển sinh lớp 10 từ Hội đồng thi tuyển sinh 10 Thành phố, chuyển về cho các trường phổ thông.

4. Trường phổ thông

– Dự tập huấn về công việc xét tốt nghiệp trung học cơ sở và tuyển sinh lớp 10.

– Tổ chức cho phụ huynh học trò và học trò tìm hiểu về xét tốt nghiệp trung học cơ sở và thi tuyển vào lớp 10. Học trò làm Phiếu đăng ký và nộp tại trường phổ thông nơi học lớp 9.

– Tư vấn cho học trò lựa chọn 3 ước vọng theo trật tự ưu tiên 1, 2, 3 vào lớp 10 các trường trung học phổ thông công lập (ko buộc phải phải ghi đủ 3 ước vọng nếu thấy ko cần thiết) thực hiện điền Phiếu đăng ký (theo mẫu) và nộp tại trường phổ thông nơi học lớp 9.

– Kiểm tra, rà soát số liệu ước vọng đã đăng ký của học trò. Đối với những trường hợp học trò đăng ký ước vọng vào lớp 10 trung học phổ thông xa nơi trú ngụ, Hiệu trưởng trường phổ thông tư vấn riêng với phụ huynh học trò, đề xuất phụ huynh chứng minh điều kiện đảm bảo cho học trò học tập tại trường đã đăng ký theo ước vọng, cam kết ko thay đổi ước vọng lúc đã trúng tuyển.

– Tiếp nhận hồ sơ học trò đăng ký dự tuyển lớp 10.

– Kiểm tra toàn thể hồ sơ đăng ký dự thi và các hồ sơ có liên quan tới kỳ thi, xem xét điều kiện dự thi của thí sinh, xác nhận tư cách thí sinh, quyết định ko cho thí sinh dự thi nếu ko đủ điều kiện dự thi và hồ sơ ko hợp thức.

– Bảo quản đầy đủ hồ sơ dự thi và danh sách thí sinh đăng ký dự thi; xuất trình kịp thời phục vụ công việc thanh tra, rà soát và yêu cầu tu sửa (nếu có).

– Lập danh sách thí sinh, cập nhật vào hệ thống danh sách thí sinh cho Phòng Giáo dục và Tập huấn đúng thời kì qui định.

– Lập phiếu báo danh phát cho học trò.

– In phiếu báo điểm cho học trò lúc có kết quả.

– Đóng dấu treo trên phiếu báo điểm lớp 10.

– Phát phiếu báo điểm cho học trò.

VII. TỔ CHỨC THI TUYỂN

1. Lịch thi

Thí sinh dự thi các bài thi theo lịch sau:

Ngày thiBuổiBài thiThời gian làm bàiGiờ mở túi đựng đề thiGiờ phát đề thiGiờ mở đầu làm bài
15.7.2020
(9 giờ 30 phút)
SángHọc trò có mặt tại Điểm thi để sinh hoạt Quy chế thi và rà soát thông tin tư nhân.
16.7.2020Sáng
Chiều
Ngữ văn
Ngoại Ngữ
120 phút
60 phút
7 giờ 40
13 giờ 40
7 giờ 55
13 giờ 55
8 giờ 00
14 giờ 00
17.7.2020SángToán120 phút7 giờ 407 giờ 558 giờ 00

2. Thứ tự ưu tiên xét tuyển

– Những học trò được dự xét tuyển là những học trò dự thi đủ ba bài thi tuyển sinh vào lớp 10 và ko có bài thi nào bị điểm 0 (ko).

– Điểm xét tuyển: là tổng điểm 3 bài thi tuyển sinh vào lớp 10 (trong đó bài thi Ngữ văn và bài thi Toán hệ số 2, bài thi ngoại ngữ hệ số 1) và điểm ưu tiên.

– Ở một trường, điểm chuẩn ước vọng 2 cao hơn điểm chuẩn ước vọng 1 và điểm chuẩn ước vọng 3 cao hơn điểm chuẩn ước vọng 2 ko quá 1 điểm (tuy nhiên có những trường hợp đặc trưng hệ thống máy tính cho kết quả ước vọng 1 bằng ước vọng 2, ước vọng 2 bằng ước vọng 3 hoặc cả 3 ước vọng bằng nhau)

3. Kiểm tra hồ sơ thí sinh

– Các trường cần rà soát kỹ hồ sơ dự tuyển (đối chiếu giữa học bạ, giấy khai sinh, các văn bằng, chứng thực,… đảm bảo xác thực tuyệt đối họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh (ghi đủ quận, huyện, tỉnh, thành), ghi đầy đủ các cột mục, ko bị rách nát, tẩy xóa, có đầy đủ chữ ký của người chịu trách nhiệm từng phần và của cấp quản lý,…), lập phiếu rà soát hồ sơ, danh sách học trò (theo mẫu của Sở Giáo dục và Tập huấn) đúng với khai sinh, học bạ, ghi chú các trường hợp thừa hưởng cơ chế ưu tiên nếu có. Kiểm tra toàn thể hồ sơ đăng ký dự tuyển và các hồ sơ có liên quan tới kỳ thi, xem xét điều kiện dự tuyển của thí sinh, xác nhận tư cách thí sinh, quyết định ko cho thí sinh dự tuyển nếu ko đủ điều kiện và hồ sơ hợp thức. Hiệu trưởng hoàn toàn chịu trách nhiệm về điều kiện dự tuyển của học trò trong trường.

– Trước ngày thi 2 ngày, Hiệu trưởng trường phổ thông ủy nhiệm cho cán bộ, thầy cô giáo đại diện trường mang toàn thể hồ sơ của thí sinh (đã sắp xếp theo từng phòng thi của mỗi Điểm thi) tới các Điểm thi để phục vụ yêu cầu rà soát hồ sơ thí sinh. Hồ sơ thí sinh được lưu giữ tại điểm thi trong các ngày thi; Phó trưởng Điểm thi sở tại chịu trách nhiệm nhận, bảo quản, giao trả hồ sơ sau lúc thi xong (lúc nhận, giao trả hồ sơ đều phải rà soát kỹ số lượng và lập thành biên bản).

Ngoài việc Hiệu trưởng chịu trách nhiệm về hồ sơ dự tuyển và điều kiện dự tuyển của học trò, Trưởng Điểm thi rà soát toàn thể hồ sơ đăng ký dự tuyển và các hồ sơ có liên quan tới kỳ thi, xem xét điều kiện dự tuyển của thí sinh, xác nhận tư cách thí sinh. Khi phát hiện thí sinh ko đủ hồ sơ hợp thức trong quá trình rà soát hồ sơ tại Điểm thi, Trưởng Điểm thi sau lúc cân nhắc cẩn thận có thể quyết định xóa tên ko cho thí sinh dự thi, Hiệu trưởng trường phổ thông có thí sinh bị xóa tên chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên của sự việc trên.

Việc rà soát hồ sơ thí sinh có thể thực hiện ngay từ ngày họp Ban Lãnh đạo Điểm thi (trước ngày thi 2 ngày) hoặc ngay sau buổi họp toàn thể Điểm thi (trước ngày thi 1 ngày), cán bộ coi thi rà soát hồ sơ do Trưởng Điểm thi phân công (trong danh sách cán bộ coi thi). Trong thời kì các Điểm thi rà soát hồ sơ thí sinh, các trường phổ thông có học trò dự thi phải cử người trực để tiếp thu thông tin từ các Điểm thi và kịp thời bổ sung, giải trình,…

Các trường hợp thất thường của hồ sơ được khắc phục như sau:

– Sau lúc Trưởng Điểm thi trao đổi với đại diện đơn vị (nếu có) hoặc trực tiếp với Hiệu trưởng trường phổ thông nhưng vẫn ko được sự nhất trí thì Trưởng Điểm thi cho lập biên bản trình Lãnh đạo Hội đồng tuyển sinh 10 thị thành xem xét (qua tổ Thư ký tại vị trí chấm thi).

– Các trường hợp họ, tên, ngày, nơi sinh,… của thí sinh trong học bạ, văn bằng, chứng thực, danh sách,… ko thích hợp với khai sinh hợp thức: Hiệu trưởng trường phổ thông có trách nhiệm tổ chức điều chỉnh sau; riêng danh sách phòng thi và phiếu thu bài sẽ được Trưởng Điểm thi điều chỉnh ngay cho thích hợp với khai sinh và theo hồ sơ hợp thức hiện có, lập biên bản (theo mẫu điều chỉnh).

– Riêng các trường hợp phải xóa tên ngay: nếu thấy chưa vững chắc và ko để thí sinh có thể bị thiệt thòi về quyền lợi thi, Trưởng Điểm thi có thể xử lý như trường hợp thiếu hồ sơ (lập biên bản, vẫn cho thi).

– Biên bản về sơ sót của hồ sơ được lập thành bốn bản:

+ Một bản Trưởng Điểm thi giữ.

+ Một bản gửi Hiệu trưởng trường phổ thông có thí sinh dự thi trong thời kì sớm nhất.

+ Một bản gửi kèm theo hồ sơ về tổ thư ký (tại vị trí chấm thi).

+ Một bản gửi Trưởng Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện ngay sau lúc hoàn thành việc rà soát hồ sơ thí sinh.

– Hiệu trưởng trường phổ thông có thí sinh dự thi, sau lúc tiếp thu biên bản của các Điểm thi, có trách nhiệm tổ chức, điều chỉnh, thông báo cho phụ huynh học trò và học trò bổ sung điều chỉnh tại tổ Thư ký nơi chấm thi. Nếu ko bổ túc hồ sơ đầy đủ, hợp thức tại tổ Thư ký nơi chấm thi trong vòng 3 ngày sau ngày thi môn cuối cùng của kỳ thi thì Hội đồng thi tuyển sinh 10 Thành phố sẽ xử lý như ko đủ điều kiện dự thi hoặc hồ sơ ko hợp thức.

Các trường hợp nghiêm trọng: cần lập biên bản và báo cáo ngay với túc trực Ban Chỉ đạo kỳ thi tại Phòng Giáo dục và Tập huấn và báo cáo Hội đồng thi tuyển sinh 10 thị thành để phối hợp khắc phục.

– Hiệu trưởng trường phổ thông phải chú ý cho rà soát nhiều lần: in ra danh sách để kiểm dò và yêu cầu học trò ký tên xác nhận đã đọc rõ các cụ thể; đặc trưng xem xét: diện ưu tiên chính sách, điểm khuyến khích cộng thêm, ngoại ngữ, môn chuyên (nếu có),… Giáo viên chủ nhiệm phải nêu rõ và đủ các cụ thể của hồ sơ học trò để từng học trò nắm lại và có ý kiến.

– Các loại giấy chứng thực để thừa hưởng cơ chế ưu tiên nếu bổ sung sau ngày thi môn cuối cùng của kỳ thi sẽ ko có trị giá hưởng cộng điểm cho cơ chế ưu tiên.

4. Tổ chức các Điểm thi

4.1. In danh sách phòng thi, phiếu thu bài, phát thẻ dự thi

Phòng Giáo dục và Tập huấn nhận dữ liệu từ hệ thống của Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục – Sở Giáo dục và Tập huấn thực hiện thực hiện như sau:

– Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện quy hoạch cụm trường thi (mỗi quận, huyện phân thành 2 – 5 cụm) theo địa bàn thuận tiện cho việc đi lại của thí sinh và lập danh sách học trò thi tại cụm đó (ứng dụng vi tính do Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục hướng dẫn); lúc ghép học trò nhiều trường vào cùng một Điểm thi (liên trường) cần chú ý ko để tỉ lệ học trò của một trường nào đó quá nhỏ (nhất là lúc ghép có hai trường).

– Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện nhận lại dữ liệu từ hệ thống tại Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục danh sách thí sinh đã đánh số báo danh, từ đây in ra bảng danh sách phòng thi và phiếu thu bài của từng phòng thi, tổ chức cho trường lập thẻ dự thi (theo mẫu) và phát thẻ dự thi tới học trò.

4.2. Danh sách Lãnh đạo của một Điểm thi gồm Trưởng Điểm thi, 2 Phó trưởng Điểm thi, 2 thư ký, danh sách cán bộ coi thi và viên chức phục vụ do Trưởng Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện và Hiệu trưởng trường phổ thông đề cử, Sở Giáo dục và Tập huấn ra quyết định theo các bước sau:

Bước 1: Sở Giáo dục và Tập huấn gửi tới từng quận, huyện và trường phổ thông bản nhu cầu về số cán bộ coi thi cần cử tới từng Điểm thi của quận, huyện khác; bản nhu cầu về 1 Phó trưởng Điểm thi, viên chức phục vụ của Điểm thi tại chỗ; bản nhu cầu về Trưởng Điểm thi, 1 Phó trưởng Điểm thi, 2 thư ký của quận, huyện tới Điểm thi khác.

Bước 2: Dựa vào các bản nhu cầu trên, Trưởng Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện, Hiệu trưởng trường phổ thông lập danh sách cán bộ được cử đi coi thi ở quận, huyện khác, danh sách Phó trưởng Điểm thi, viên chức phục vụ tại chỗ và danh sách Trưởng Điểm thi, 1 Phó trưởng Điểm thi, 2 thư ký đi nơi khác.

Mỗi loại danh sách lập thành 1 bản có ký tên đóng dấu và gửi kèm theo đĩa CD về Sở Giáo dục và Tập huấn, đồng thời gửi qua mạng internet danh sách cán bộ coi thi, chấm thi.

Bước 3: Khi thu được các bản danh sách trên, Sở Giáo dục và Tập huấn ký duyệt trên danh sách đề xuất và đồng thời:

– Gửi về Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện, Hiệu trưởng trường phổ thông một bản (để Ban Chỉ đạo quận, huyện và Hiệu trưởng trường phổ thông sao gửi thông báo tới thầy cô giáo và lãnh đạo trường, xem như đây là giấy triệu tập).

– Gửi 01 bản kèm vào hồ sơ của Ban Lãnh đạo Điểm thi.

– Gửi 01 bản cho Ban Chỉ đạo quận, huyện nơi coi thi.

4.3. Các Điểm thi phải sắp đặt bàn, hoặc ghế, hoặc giá đỡ, hoặc tủ,… bên ngoài mỗi phòng thi để thí sinh để tài liệu, đồ vật; tránh để tài liệu, đồ vật ngổn ngang, lộn xộn dưới nền nhà. Thông báo cho học trò biết: những tài liệu, đồ vật của thí sinh để ngoài phòng thi bị hư hỏng, mất,… Điểm thi ko chịu trách nhiệm.

Mỗi phòng thi được sắp đặt 24 chỗ ngồi cho thí sinh, cần chú ý khoảng cách bàn ghế, chỗ ngồi của thí sinh (2 học trò ngồi cạnh nhau theo hàng ngang phải cách nhau ít nhất 1,2 mét), đủ chuẩn về vệ sinh, ánh sáng, bàn ghế.

4.4. Khi họp Ban Lãnh đạo Điểm thi

– Cần rà soát kỹ lại danh sách thí sinh, các ấn chỉ, biểu mẫu, phù hiệu của cán bộ coi thi (viên chức phục vụ Điểm thi cũng phải đeo phù hiệu), danh sách cán bộ coi thi, dành thời kì liên hệ với đơn vị cử thầy cô giáo tới coi thi xem có gì sơ sót hoặc ko khớp về danh sách cán bộ coi thi.

– Kiểm tra, xem xét vấn đề phục vụ, bảo vệ an ninh Điểm thi, điện, nước, âm thanh, ánh sáng, điện thoại, sẵn sàng phương án lúc cúp điện, có máy phát điện dự phòng, có giải pháp phòng ngừa mưa to, gió lớn,… xem xét vấn đề y tế, vệ sinh, nước uống cho thí sinh,…

– Chú ý xem xét kỹ trong và ngoài điểm thi, có giải pháp phòng chống, phát hiện việc liên thông trong, ngoài phạm vi quy định tổ chức thi (cửa sổ trông ra ngoài ko có rào, gần đường,…).

– Trong các ngày thi: căn-tin ko được hoạt động; nếu trong khuôn viên điểm thi có người ở thì yêu cầu ko đi lại trong khu vực của Điểm thi, ko được có những hoạt động, hành vi vi phạm tới sự an toàn, tính nghiêm túc của kỳ thi.

– Phòng ngừa sự cố thiếu đề thi: sẵn sàng sẵn máy photocopy, giấy trắng A3, A4 để trong văn phòng Điểm thi. Việc sao in đề thi sử dụng máy photocopy do Trưởng Điểm thi quyết định. Sau đó lập biên bản và báo cáo lãnh đạo Ban chỉ huy kỳ thi tại quận, huyện.

– Việc ra vào Điểm thi phải được sự chấp thuận của Trưởng Điểm thi.

– Điểm thi phải tự liên hệ với địa phương (Ủy ban nhân dân, Công an phường, quận) để được hỗ trợ về bảo vệ, an ninh kỳ thi, điện, nước,… (do Phó trưởng Điểm thi là người sở tại chịu trách nhiệm).

4.5. Tăng lên ý thức trách nhiệm của cán bộ làm nhiệm vụ coi thi; thầy cô giáo, cán bộ coi thi phải được quán triệt về trách nhiệm, quyền hạn và nghiệp vụ của cán bộ coi thi, cán bộ giám sát phòng thi,… trước lúc được phân công coi thi (Trưởng Điểm thi phải thực hiện thật nghiêm túc việc bồi dưỡng nghiệp vụ này trong ngày họp toàn thể Điểm thi). Cần phải họp rút kinh nghiệm từng buổi coi thi và tổng kết việc coi thi trước toàn thể Điểm thi.

Nhắc nhở các thành viên Điểm thi làm hết trách nhiệm được giao và quy định cụ thể mức độ khen thưởng, xử lý kỷ luật lúc làm nhiệm vụ.

Trước mỗi buổi thi: Trưởng Điểm thi đảm bảo các phương tiện thu, phát thông tin tư nhân (nếu có) của tất cả những người làm nhiệm vụ tại Điểm thi phải được lưu giữ tại phòng trực của Điểm thi. Khi cần thông tin nguy cấp, cán bộ làm nhiệm vụ thi phải báo cáo Trưởng Điểm thi để xử lý..

Trưởng Điểm thi quy định cách đánh số báo danh trong phòng thi; tổ chức cho cán bộ coi thi, cán bộ giám sát phòng thi bắt thăm phân công coi thi, giám sát phòng thi.

Cán bộ coi thi chịu trách nhiệm trước Trưởng Điểm thi; thực hiện các công việc sau:

Phcửa ải có mặt đúng giờ tại Điểm thi để làm nhiệm vụ. Trong lúc thực hiện nhiệm vụ coi thi, ko được mang các thiết bị thu phát thông tin; ko được làm việc riêng, ko được hút thuốc, ko được sử dụng các loại đồ uống có cồn.

Khi có hiệu lệnh, CBCT thứ nhất gọi tên thí sinh vào phòng thi, CBCT thứ hai dùng Phiếu báo danh (có dán ảnh) và Danh sách của thí sinh dự thi để đối chiếu, nhận diện thí sinh; hướng dẫn thí sinh ngồi đúng chỗ quy định và rà soát các đồ vật thí sinh mang vào phòng thi, tuyệt đối ko để thí sinh mang vào phòng thi các tài liệu và đồ vật bị cấm theo quy định.

Khi có hiệu lệnh, CBCT thứ nhất đi nhận đề thi, CBCT thứ hai nhắc nhở thí sinh những điều cần thiết về kỷ luật phòng thi; ghi rõ họ tên và ký tên vào các tờ giấy thi, giấy nháp đủ để phát cho thí sinh (ko ký thừa); hướng dẫn và rà soát thí sinh gấp giấy thi đúng quy cách, ghi số báo danh và điền đủ thông tin thí sinh vào các mục cần thiết của giấy thi trước lúc làm bài.

Khi có hiệu lệnh, CBCT thứ nhất giơ cao phong bì đề thi để thí sinh thấy rõ cả mặt trước và mặt sau còn nguyên nhãn niêm phong, yêu cầu hai thí sinh chứng kiến và ký vào biên bản xác nhận bì đề thi còn nguyên nhãn niêm phong; mở bì đựng đề thi, rà soát số lượng đề thi (nếu thừa, thiếu hoặc lẫn đề thi khác, cần báo ngay cho Trưởng Điểm thi xử lý); phát đề thi cho từng thí sinh.

Khi thí sinh mở đầu làm bài, CBCT thứ nhất đối chiếu ảnh trong Phiếu báo danh và Danh sách dự thi của thí sinh với thí sinh để nhận diện thí sinh, ghi rõ họ tên và ký vào các tờ giấy thi, giấy nháp của thí sinh; CBCT thứ hai bao quát chung. Trong giờ làm bài, một CBCT bao quát từ đầu phòng tới cuối phòng, CBCT còn lại bao quát từ cuối phòng tới đầu phòng cho tới hết giờ thi; CBCT ko được đứng gần thí sinh, giúp sức thí sinh làm bài thi dưới bất kỳ hình thức nào; chỉ được trả lời công khai các câu hỏi của thí sinh trong phạm vi quy định.

CBCT phải bảo vệ đề thi trong giờ thi, ko để lọt đề thi ra ngoài phòng thi. Sau lúc tính giờ làm bài 15, CBCT nộp các đề thi thừa đã được niêm phong cho người được Trưởng Điểm thi phân công;

Chỉ cho thí sinh ra khỏi phòng thi sớm nhất sau 2 phần 3 thời kì làm bài sau lúc thí sinh đã nộp bài làm, đề thi và giấy nháp. Nếu thí sinh nhất quyết phải tạm thời ra khỏi phòng thi thì CBCT phải báo cho cán bộ giám sát phòng thi để phối hợp thực hiện theo quy định.

Nếu có thí sinh vi phạm kỷ luật thì CBCT phải lập biên bản xử lý theo đúng quy định. Nếu có tình huống thất thường phải báo cáo ngay cho Trưởng Điểm thi;

Trước lúc hết giờ làm bài 15 phút, CBCT thông báo thời kì còn lại cho thí sinh biết.

Khi có hiệu lệnh hết giờ làm bài, CBCT thứ nhất phải yêu cầu thí sinh ngừng làm bài và thực hiện thu bài, kể cả bài thi của thí sinh đã bị lập biên bản; CBCT thứ hai duy trì trật tự và kỷ luật phòng thi; CBCT thứ nhất vừa gọi tên từng thí sinh lên nộp bài thi vừa nhận bài thi của thí sinh. Khi nhận bài thi, phải đếm đủ số tờ giấy thi của từng bài, yêu cầu thí sinh tự ghi đúng số tờ giấy thi đã nộp và ký tên vào hai Phiếu thu bài thi. Thu xong toàn thể bài thi mới cho phép các thí sinh rời phòng thi;

Các CBCT rà soát, xếp bài thi theo trật tự tăng dần của số báo danh thí sinh trong phòng thi và cho vào túi đựng bài thi. CBCT thứ nhất trực tiếp mang túi đựng bài thi, hai Phiếu thu bài thi, các biên bản xử lý kỷ luật và tang vật kèm theo (nếu có) cùng CBCT thứ hai tới bàn ủy quyền thư ký Điểm thi ngay sau mỗi buổi thi. Khi bàn giao phải kiểm đếm công khai và đối chiếu số bài, số tờ của từng bài thi, Phiếu thu bài thi và các biên bản xử lý kỷ luật cùng tang vật kèm theo (nếu có);

Sau lúc kiểm đếm xong, bài thi và một Phiếu thu bài thi của mỗi phòng thi được đưa vào túi đựng bài thi của phòng thi đó; được thư ký Điểm thi cùng hai CBCT niêm phong tại chỗ. Nhãn niêm phong được dán vào chính giữa tất cả các mép dán của túi đựng bài thi, Trưởng Điểm thi và thư ký trực tiếp kiểm đếm ký và ghi rõ họ tên trên nhãn niêm phong, hai CBCT ký giáp lai giữa nhãn niêm phong và túi đựng bài thi rồi đóng dấu giáp lai nhãn niêm phong; sau đó, dùng băng keo trong suốt dán vòng quanh dọc theo chiều dài mép dán của túi đựng bài thi và phủ lên nhãn niêm phong. Thư ký Điểm thi và hai CBCT ghi rõ họ tên và ký vào biên bản bàn giao.

Những người tham gia tổ chức kỳ thi có hành vi vi phạm Quy chế thi bị xử lý theo Quy chế thi trung học phổ thông hiện hành.

Trước ngày thi, tập trung thí sinh sinh hoạt Quy chế thi và rà soát thông tin: trưởng Điểm thi phân công cán bộ hướng dẫn thí sinh tiền gian có mặt vào mỗi buổi thi; cách ghi thông tin vào giấy làm bài thi; rộng rãi Quy chế thi; xác nhận những sơ sót về họ, tên, nhân vật…Trong lúc cho thí sinh ký tên vào danh sách rà soát thông tin thí sinh, cán bộ được phân công yêu cầu thí sinh dò kỹ cụ thể trong danh sách, nếu thí sinh có yêu cầu điều chỉnh thì cán bộ được phân công lập biên bản báo cáo về Trưởng Điểm thi và Trưởng Điểm thi lập biên bản tổng hợp các sơ sót này (2 bản), một bản gửi về Phòng Giáo dục và Tập huấn để được điều chỉnh lại từ hệ thống (sau lúc đối chiếu lại với hồ sơ); một bản gởi Tổ Thư ký tại Hội đồng chấm thi.

Thí sinh ko được tự ý sửa trong danh sách phòng thi; tất cả sơ sót ở danh sách và hồ sơ phải lập biên bản gửi về tổ Thư ký tại Hội đồng chấm thi.

Thực hiện việc phân công cán bộ coi thi, cán bộ giám sát phòng thi bằng phương thức bắt thăm và đổi chỗ ngồi của thí sinh qua mỗi buổi thi.

Xem xét: Việc thay cán bộ coi thi, cán bộ chấm thi (sau lúc đã có danh sách chính thức) phải có văn bản đề xuất thay thế cán bộ coi thi, cán bộ chấm thi của Hiệu trưởng trường phổ thông xác nhận; riêng việc thay đổi cán bộ coi thi, cán bộ chấm thi là thầy cô giáo thuộc trường trung học cơ sở phải có xác nhận của Phòng Giáo dục và Tập huấn. Tất cả việc đề xuất thay đổi phải được Sở Giáo dục và Tập huấn thông qua (ký duyệt) mới có trị giá chính thức tại các Điểm thi, Ban chấm thi.

Cán bộ giám sát phòng thi chịu trách nhiệm trước Trưởng Điểm thi; thực hiện các công việc sau:

Gisát hại việc thực hiện nhiệm vụ của CBCT, các thành viên khác tại khu vực được phân công.

Gisát hại thí sinh được CBCT cho phép ra ngoài phòng thi; kịp thời nhắc nhở CBCT, trật tự viên, công an, viên chức y tế và lập biên bản nếu các nhân vật trên vi phạm Quy chế thi.

Kiến nghị Trưởng Điểm thi đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ hoặc thay đổi CBCT, trật tự viên, công an, viên chức y tế nếu có vi phạm.

Yêu cầu CBCT lập biên bản thí sinh vi phạm Quy chế thi (nếu có); phối hợp với các đoàn thanh tra thi trong việc thanh tra, xử lý vi phạm.

4.6. Các đồ vật thí sinh được mang vào phòng thi

Chỉ được mang vào phòng thi bút viết, bút chì, compa, tẩy, thước kẻ, thước tính, máy tính bỏ túi ko có tính năng soạn thảo văn bản và ko có thẻ nhớ.

4.7. Xử lý đối với thí sinh tới muộn

Trường hợp thí sinh tới phòng thi muộn, nhưng chưa có hiệu lệnh tính giờ làm bài thì cán bộ coi thi lập biên bản và cho thí sinh dự thi; tất cả các trường hợp tới chậm quá 15 phút sau (thí sinh có mặt tại cổng điểm thi) lúc có hiệu lệnh tính giờ làm bài sẽ ko được dự thi.

4.8. Nhận diện thí sinh dự thi

Sau lúc phát đề thi xong, cả hai cán bộ coi thi dựa vào ảnh dán trong thẻ dự thi hoặc phiếu đăng ký dự thi để nhận diện thí sinh, có thể so với thẻ học trò hoặc chứng minh nhân dân.

5. Giao nhận đề thi

5.1. Sở Giáo dục và Tập huấn tổ chức giao đề thi tới Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện trước ngày thi 1 ngày.

5.2. Các quận, huyện chịu trách nhiệm bảo quản và tổ chức giao đề thi tới các Điểm thi. Mỗi sáng sớm giao các thùng đựng đề thi dùng cho ngày hôm đó, ko được để đề thi chưa sử dụng qua đêm tại Điểm thi. Ban Chỉ đạo quận, huyện cần báo cáo chủ trương này với Lãnh đạo Ủy ban nhân dân quận, huyện để được hỗ trợ đủ các phương tiện chuyển vận an toàn, kịp thời tới các Điểm thi, xem xét phải có Công an đi kèm lúc chuyển đề thi.

5.3. Đề thi của mỗi ngày được Phòng Giáo dục và Tập huấn giao trực tiếp cho Trưởng Điểm thi (hoặc Phó trưởng Điểm thi được Trưởng Điểm thi ủy quyền bằng văn bản) tại Điểm thi từ 6 giờ 00; xe chuyển đề thi phải vào trong khuôn viên Điểm thi, yêu cầu bảo vệ và công an có mặt tại Điểm thi trước 6 giờ 00, bàn giao đề thi phải được thực ngày nay phòng nơi đặt tủ bảo quản đề thi có sự chứng kiến của công an Điểm thi và lập thành biên bản giao nhận đề thi. Riêng đề thi môn chuyên do Sở Giáo dục và Tập huấn giao tới các Điểm thi có môn chuyên.

5.4. Trưởng Điểm thi mở túi đựng đề thi trước giờ thí sinh làm bài 20 phút (cắt mép dán đúng quy cách), ngay trước đó yêu cầu 2 cán bộ coi thi 1 rà soát kỹ sự nguyên vẹn của túi đựng đề thi còn niêm phong, đối chiếu kỹ tên bài thi in trên túi đựng đề thi với lịch thi, trình cho cả tập thể cán bộ coi thi 1 nhìn rõ (ko được rà soát làm phép) và lập biên bản theo mẫu. Sau lúc hai đại diện các cán bộ coi thi 1 ký xác nhận trên tất cả túi kể cả túi đựng đề thi dự phòng, Trưởng Điểm thi mới mở túi để lấy đề thi và đọc nhanh tên bài thi ghi trên đề thi để kịp thời xử lý ngay nếu bài thi ghi trên đề thi ko thích hợp với lịch thi (cho trở lại ngay vào túi) lập biên bản, niêm túi đựng đề thi đó và báo khẩn về Hội đồng thi tuyển sinh 10 thị thành để có ý kiến chỉ huy.

5.5. Mỗi Điểm thi sẵn sàng sẵn túi đựng đề thi cho các phòng thi (dùng túi đựng bài thi). Sau lúc mở túi đựng đề thi, Trưởng Điểm thi tổ chức kiểm đếm và đưa đúng số lượng đề thi vào túi riêng cho mỗi phòng thi rồi mới ủy quyền cán bộ coi thi 1.

– Cán bộ coi thi 1 kiểm đủ số lượng; chú ý so dò các bản với nhau.

– Cán bộ coi thi 1 ký vào tờ giao nhận đề thi giữa Trưởng Điểm thi và cán bộ coi thi 1 trước lúc rời văn phòng Điểm thi.

– Cán bộ coi thi 1 có nhiệm vụ bảo quản an toàn túi đựng đề thi để đưa về phòng thi. Đúng giờ quy định, có hiệu lệnh cán bộ coi thi 1 phát đề thi cho thí sinh theo thứ tự từ trái qua phải và từ trên xuống dưới; hướng dẫn thí sinh ghi họ, tên và số báo danh vào đề thi, giấy nháp trước lúc làm bài. Cả hai cán bộ coi thi rà soát và ký tên vào bài thi, giấy nháp của thí sinh. Chỉ cho phép thí sinh rời khỏi phòng thi lúc hế 2/3 thời kì làm bài.

– Các cán bộ coi thi ko đọc, ko chép, ko giữ và ko giải đề thi lúc làm nhiệm vụ coi thi.

– Mỗi phòng thi phải được trang bị 01 chiếc kéo dành cho CBCT để cắt túi đề thi. Trước lúc cắt túi đề thi và phát đề thi vào đúng thời khắc ghi trong Lịch thi, CBCT phải cho toàn thể thí sinh trong phòng thi chứng kiến tình trạng niêm phong của túi đề thi, sự thích hợp bà thi với lịch thi và lập biên bản xác nhận có chữ ký của 2 thí sinh trong phòng thi.

– Ngay sau lúc phát đề cho thí sinh, CBCT yêu cầu thí sinh rà soát tình trạng đề thi: nếu thấy đề thi bị thiếu trang hoặc rách, nhòe, mờ, phải tức khắc báo cho CBCT để kịp thời xử lý; nếu ko phát hiện hoặc để quá sau lúc phát đề 05 phút thì thí sinh phải tự chịu trách nhiệm. Tất cả những trường hợp phát sinh về đề thi, CBCT phải báo cáo cho Trưởng Điểm thi để báo cáo Trưởng ban Coi thi ngay sau lúc phát hiện (qua cán bộ giám sát thi).

5.6. Ngay sau lúc giao đề thi cho cán bộ coi thi 1 xong, Trưởng Điểm thi cho lập biên bản và niêm phong các đề thi thừa.

– Chậm nhất 15 phút sau thời khắc tính giờ làm bài, Thư ký hoặc người được Trưởng Điểm thi phân công phải hoàn thành việc tới các phòng thi lấy điểm danh và nhận số đề thi thừa (nếu có); cùng 2 cán bộ coi thi trong phòng thi lập biên bản giao nhận và niêm phong tại chỗ túi đựng đề thi thừa để chuyển cho Trưởng Điểm thi bảo quản.

– Phó trưởng Điểm thi phụ trách hạ tầng, kỹ thuật ko được tham gia vào các công việc liên quan trực tiếp tới đề thi.

5.7. Bảo quản và sử dụng đề thi dự trữ

– Số lượng đề thi phát tới từng Điểm thi bằng tổng số thí sinh đăng ký dự thi và tối đa 20 đề thi dự trữ, số liệu này có ghi rõ trên túi đựng đề thi.

– Việc sử dụng hay ko sử dụng đề thi dự trữ (trong một túi riêng) đều phải lập biên bản và trả túi này về cho Tổ Thư ký tại Ban chấm thi cùng với các túi đựng đề thi khác.

6. Thu bài thi, giao nhận bài thi, niêm gói và vận chuyển bài thi

6.1. Thu bài thi

– Trước lúc hết giờ làm bài 15 phút cán bộ coi thi nhắc thí sinh xem lại các yêu cầu cần ghi vào phần phách của giấy thi, chú ý rà soát lại những tờ giấy thi xin thêm để làm bài xem đã có đủ chữ ký của hai cán bộ coi thi ko.

– Khi có hiệu lệnh hết giờ làm bài, cán bộ coi thi yêu cầu thí sinh ngưng làm bài, đặt bút xuống bàn, ngồi tại chỗ, giữ trật tự; thí sinh nộp bài thi ko phải nộp đề thi và giấy trắng; cán bộ coi thi 1 gọi tên kèm theo số báo danh của từng thí sinh lên nộp bài, rà soát số tờ của mỗi bài thi, hướng dẫn thí sinh ghi và ký vào phiếu thu bài thi, có ghi rõ số tờ của mỗi bài thi, thu tuần tự cho tới thí sinh cuối cùng của phòng thi; trong lúc đó, cán bộ coi thi 2 quan sát và giữ trật tự phòng thi.

– Sau lúc thu xong bài thi, cả hai cán bộ coi thi rà soát lại số lượng bài thi đầy đủ mới cho thí sinh ra khỏi phòng thi và cùng rời phòng thi về văn phòng Điểm thi.

6.2. Giao nhận bài thi

– Khi bàn giao bài thi cho lãnh đạo Điểm thi phải có mặt cả hai cán bộ coi thi. Tập bài thi được xếp theo trật tự số báo danh từ nhỏ tới lớn của phòng thi (số báo danh nhỏ ở trên, số báo danh lớn ở dưới) và lồng vào nhau thành từng tập, mỗi tập 6 bài. Sau lúc thu bài thi xong, cả hai cán bộ coi thi cùng rà soát lại các cụ thể trong 4 trang của bìa bọc bài thi, thực hiện việc đánh số trật tự trong bài thi (ví dụ: lúc bài thi số trật tự 11 có 1 tờ thì chỉ ghi số 11; có 3 tờ thì ghi 11a, 11b, 11c; ko được ghi là 11A, 11B, 11C hoặc mẫu tự nào khác).

Trường hợp thí sinh vắng thi đưa thêm tờ giấy màu xanh: Giđó này thay cho bài làm tự luận của thí sinh vắng (điền số báo danh vắng) và vẫn đánh số trật tự trên giấy này, nhưng ngoài bìa bọc bài thi ghi tổng số bài thi, tổng số tờ giấy thi theo thực tiễn thí sinh có mặt dự thi.

– Việc giao nhận bài thi giữa hai cán bộ coi thi với Trưởng Điểm thi phải được thực hiện đầy đủ thủ tục, xác thực: người kiểm bài, nhận bài được Trưởng Điểm thi phân công phải đếm đủ số tờ của từng bài thi, đủ số bài thi của mỗi phòng, ghi đủ và đúng số liệu trên túi đựng bài thi trước lúc cho hai cán bộ coi thi ký vào biên bản giao nhận bài thi giữa cán bộ coi thi và Trưởng Điểm thi. Nếu số liệu ko thích hợp thì cho thẩm tra lại ngay, quy trách nhiệm rõ ràng. Cả hai cán bộ coi thi cùng chịu trách nhiệm về sự thất lạc bài thi (nếu có).

– Người kiểm bài, nhận bài của Điểm thi sau lúc rà soát đầy đủ các cụ thể (số bài, số tờ, số thí sinh,… chữ ký của hai cán bộ coi thi,…) ký nhận đã kiểm bài, đưa tất cả bài thi của phòng thi cùng 1 phiếu thu bài thi vào trong túi đựng bài thi (xem xét ghi đầy đủ các cụ thể bên ngoài túi này), dán kín tất cả mép túi trước mặt cả hai cán bộ coi thi; sau đó cả hai cán bộ coi thi cùng ký giáp lai vào tất cả mép dán và đóng dấu niêm phong túi đựng bài thi.

– Lãnh đạo Điểm thi phải giám sát kỹ việc thực hiện thứ tự kiểm bài tại văn phòng Điểm thi, nhắc nhở trách nhiệm của người kiểm bài, nhận bài thi.

6.3. Niêm gói các túi đựng bài thi

– Việc đóng gói và niêm phong các túi đựng bài thi của Điểm thi phải đảm kiểm soát an ninh toàn, bảo mật cao; có sự chứng kiến của cán bộ làm công việc coi thi tại Điểm thi; thực hiện ngay sau lúc thu bài thi xong và có đủ chữ ký của Trưởng, Phó trưởng, Thư ký Điểm thi trên nhãn niêm gói (thùng) đựng các túi bài thi đã được ghi đầy đủ các số liệu cần thiết, đóng dấu giáp lai. Mỗi loại bài thi phải được niêm gói riêng.

– Đối với bài thi Ngoại ngữ phải niêm gói riêng đối với từng loại Ngoại ngữ không giống nhau (nếu có) trong Điểm thi; đối với bài thi chuyên cũng niêm gói riêng cho từng môn chuyên không giống nhau.

6.4. Chuyển bài thi về Ban chấm thi

Ban Chỉ đạo kỳ thi quận, huyện tới nhận bài thi tại Điểm thi vào cuối mỗi ngày thi và chuyển về vị trí chấm thi. Yêu cầu lập biên bản bàn giao bài thi, xác thực về số liệu theo đúng như nhãn niêm thùng đựng bài thi. Riêng bài thi môn chuyên do Ban Vận chuyển bài thi của Hội đồng thi thị thành tới nhận tại Điểm thi có thi môn chuyên.

7. Báo cáo nhanh

– Sau 05 phút mở đầu tính giờ làm bài, Trưởng Điểm thi cử cán bộ lấy danh sách điểm danh và tổng hợp tình hình thí sinh sơ bộ báo cáo nhanh Hội đồng thi Thành phố (chậm nhất là 15 phút sau giờ tính giờ làm bài của thí sinh).

– Trong quá trình coi thi nếu có sự cố thất thường hoặc hành vi vi phạm Quy chế thi phải báo cáo ngay về Ban Coi thi theo số điện thoại: 028.38226796; 028.38234109; 028.38232625.

8. Phúc khảo bài thi

– Mọi thí sinh đều có quyền xin phúc khảo bài thi. Thí sinh nộp đơn xin phúc khảo bài thi tại nơi nộp đơn dự thi trong vòng 03 (ba) ngày sau lúc thông báo kết quả điểm bài thi.

– Thí sinh xin phúc khảo phải nộp Phiếu đăng ký phúc khảo bài thi (theo mẫu) gửi tới trường phổ thông nơi nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển.

– Sau lúc lập danh sách thí sinh đăng ký phúc khảo (theo mẫu), các trường phổ thông gửi toàn thể hồ sơ phúc khảo về Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện. Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện tập trung danh sách gửi về Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục.

– Điểm các bài thi sau phúc khảo là điểm chính thức của thí sinh và được cập nhật lên hệ thống.

– Thí sinh được nhận phiếu điểm mới (lúc có thay đổi điểm số) tại trường đăng ký dự ký dự tuyển.

9. Điện thoại liên hệ trong công việc thi

Thường trực Hội đồng thi tuyển sinh 10 Thành phố: 028.38226796; 028.38234109; 028.38232625.

VIII. TỔ CHỨC NHẬP HỌC

1.Tổ chức tiếp thu hồ sơ nhập học:

– Hiệu trưởng trường phổ thông sắp đặt nơi tiếp học trò tới làm hồ sơ đăng ký nhập học tại trường mình thật lịch sự và thuận tiện; phân công cán bộ, thầy cô giáo, viên chức đã được hướng dẫn nắm vững nghiệp vụ, có thái độ giao tiếp, xử sự văn hóa làm công việc hướng dẫn trả lời thắc mắc và thu nhận hồ sơ của học trò.

2. Hồ sơ nhập học:

– Phiếu đăng ký xét tốt nghiệp trung học cơ sở năm 2020 và thi tuyển vào lớp 10 trung học phổ thông năm học 2020-2021 có ghi 3 ước vọng ưu tiên xét vào các trường trung học phổ thông;

– Phiếu báo điểm tuyển sinh 10 trên đó có ghi 3 ước vọng;

– Học bạ cấp trung học cơ sở (bản chính);

– Bằng tốt nghiệp trung học cơ sở (bản chính). Học trò mới xác nhận tốt nghiệp nộp giấy chứng thực tốt nghiệp (tạm thời) do các cơ sở giáo dục cấp và nộp bản chính văn bằng vào hồ sơ lúc được Phòng Giáo dục và Tập huấn cấp phát bằng;

– Bản sao giấy khai sinh hợp thức;

– Giđó xác nhận thừa hưởng chính sách ưu tiên (nếu có) do cơ quan có thẩm quyền cấp;

3. Việc thay đổi ước vọng:

Tuyệt đối ko đổi ước vọng sau lúc thông báo kết quả tuyển sinh (cụ thể là hình thức chuyển trường sau lúc trúng tuyển).

Sở Giáo dục và Tập huấn cũng như các trường trung học phổ thông đều ko nhận đơn cũng như ko khắc phục việc xin đổi ước vọng. Các trường trung học phổ thông chỉ nhận hồ sơ thí sinh có trong sách trúng tuyển vào lớp 10 của đơn vị mình.

4. Lập danh sách tuyển sinh vào lớp 10

4.1. Chương trình cập nhật danh sách học trò trúng tuyển sinh 10

– Trường trung học phổ thông thực hiện chương trình cập nhật danh sách học trò tuyển sinh 10 thống nhất toàn thị thành. Khi học trò nộp hồ sơ, trường ghi lại vào ô nộp hồ sơ trong chương trình trước lúc in danh sách nộp về Sở Giáo dục và Tập huấn.

4.2. In danh sách trúng tuyển

– Trường trung học phổ thông in 2 bản và đóng bìa, lúc in trường trung học phổ thông nhập các thông tin sau vào chương trình:

+ Năm học: 2020 – 2021

+ Họ tên Người lập bảng: Nhập Họ tên Người lập bảng.

+ Họ tên Hiệu trưởng: Nhập Họ tên Hiệu trưởng.

+ Họ tên Phó Giám đốc: Nguyễn Văn Hiếu.

– Danh sách được in khổ ngang giấy A4 (Top = 2,5cm; Bottom = 2,5cm; Left = 3cm; Right = 2,5cm). Đóng bìa theo lề trái.

– Nội dung trang bìa theo mẫu có trong chương trình với đầy đủ thông tin.

IX. KẾ HOẠCH THỜI GIAN

THỜI GIANNỘI DUNG CÔNG VIỆCĐƠN VỊ, CÁ NHÂN
THỰC HIỆN
22.5.2020– Triển khai xét tốt nghiệp trung học cơ sở và tuyển sinh vào lớp 10; rộng rãi chương trình xét tốt nghiệp trung học cơ sở và chương trình nhập dữ liệu tuyển sinh vào lớp 10 tại hội trường Sở Giáo dục và Tập huấn (Đã tập huấn)Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
Từ 20.5.2020 tới 27.5.2020– Tổ chức cho phụ huynh học trò và học trò tìm hiểu về xét tốt nghiệp trung học cơ sở và tuyển sinh vào lớp 10 và học trò làm Phiếu đăng ký nộp tại nơi đang học.Trường phổ thông
02.6.2020– Các đơn vị cơ sở hoàn thành nhập dữ liệu xét tốt nghiệp trung học cơ sở và nhập dữ liệu tuyển sinh vào lớp 10.Trường phổ thông
02.6.2020– Sở Giáo dục và Tập huấn gửi nhu cầu số thầy cô giáo làm cán bộ coi thi về các cơ sở giáo dụcPhòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
Từ 02.6.2020 tới 04.6.2020– Phòng Giáo dục và Tập huấn rà soát việc nhập liệu của các cơ sở (kể cả việc nhập liệu cho các nhân vật tuyển thẳng) và khóa dữ liệu (sẽ ko thêm hoặc loại trừ lúc đã khóa dữ liệu)Phòng Giáo dục và Tập huấn
04.6.2020 (16 giờ 00)– Phòng Giáo dục và Tập huấn hoàn thành rà soát và chuyển dữ liệu về Sở.Phòng Giáo dục và Tập huấn
05.6.2020

– Các trường trung học phổ thông nộp danh sách đề xuất Hội đồng tuyển sinh về Phòng Tổ chức Cán bộ

– Nộp danh sách (theo mẫu) Ban Lãnh đạo Điểm thi, Cán bộ coi thi, cán bộ chấm thi, viên chức phục vụ tại chỗ (đối với các đơn vị được chọn làm điểm thi) về Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục

– Phòng Giáo dục và Tập huấn chuyển dữ liệu tuyển sinh, nộp hồ sơ tuyển thẳng vào lớp 10 về Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục.

Trường phổ thông Phòng Giáo dục và Tập huấn Phòng Giáo dục và Tập huấn
05.6.2020– Sở Giáo dục và Tập huấn rộng rãi số liệu tổng hợp thuở đầu về số học trò đăng ký dự thi vào từng trường (đăng ký ước vọng 1)Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
Từ 05.6.2020 tới 12.6.2020

– Phụ huynh học trò và học trò có thể điều chỉnh ước vọng

– Phòng Giáo dục và Tập huấn mở khóa phần điều chỉnh ước vọng cho các đơn vị điều chỉnh

Trường phổ thông Phòng Giáo dục và Tập huấn
15.6.2020– Gửi danh sách cán bộ, thầy cô giáo, viên chức tham gia Hội đồng thi tuyển sinh 10 Thành phốPhòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
Trước 16 giờ 00 ngày 12.6.2020

– Hết hạn nhận phiếu đăng ký thi tuyển vào lớp 10 (chỉ nhận điều chỉnh ước vọng, ko thêm hoặc loại trừ thí sinh ra khỏi danh sách) và hoàn thành nhập dữ liệu điều chỉnh ước vọng tại Phòng Giáo dục và Tập huấn.

– Phòng Giáo dục và Tập huấn khóa dữ liệu và chuyển dữ liệu hoàn chỉnh về cho Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục.

Trường phổ thông

Phòng Giáo dục và Tập huấn

18.6.2020– Niêm phong các phiếu đăng ký thi tuyển vào lớp 10Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện
03.7.2020– Phòng Giáo dục và Tập huấn nhận dữ liệu đã có số báo danh và phòng thi từ Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dụcPhòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
Từ 03.7 tới 06.7.2020– Phòng Giáo dục và Tập huấn in danh sách dự thi, phiếu thu bài và triển khai phát phiếu báo danh cho thí sinhPhòng Giáo dục và Tập huấn
07.7.2020– Phát phiếu báo danh cho thí sinhTrường phổ thông
07.7.2020 (8 giờ 00)– Hướng dẫn công việc coi thi và bàn giao Ban Lãnh đạo Điểm thi cho Ban Chỉ đạo quận, huyện tại Sở Giáo dục và Tập huấn (HT2.1)Hội đồng thi tuyển sinh 10 Thành phố, thi, Ban Chỉ đạo quận, huyện
08.7.2020 (8 giờ 00)– Ban Lãnh đạo Điểm thi họp với Ban Chỉ đạo quận, huyệnBan Chỉ đạo quận, huyện và Ban lãnh đạo các Điểm thi đóng trên khu vực quận, huyện

14.7.2020

(7 giờ 30)

– Ban Lãnh đạo Điểm thi họp bàn công việc của Điểm thi, rà soát hồ sơ,…

– Hội đồng thi tuyển sinh 10 Thành phố nắm tình hình sẵn sàng kỳ thi của các quận, huyện

Ban coi thi Hội đồng thi tuyển sinh 10 Thành phố

15.7.2020

(7 giờ 30)

9 giờ 30

– Họp toàn thể Điểm thi để sẵn sàng công việc coi thi, rà soát hồ sơ thi,…

– Giao đề thi cho các Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện

– Tiếp nhận thí sinh theo quy chế thi và rà soát thông tin thí sinh.

Toàn thể cán bộ coi thi của Điểm thi

Hội đồng thi tuyển sinh 10 Thành phố

Toàn thể cán bộ coi thi của Điểm thi

16,17.7.2020

– Tổ chức thi theo lịch quy định (cuối mỗi ngày thi, nộp bài về hội đồng chấm thi)

– Giao nhận bài thi (vào cuối mỗi ngày thi)

Ban coi thi, Tổ Thư ký
17.7.2020 (13 giờ 30)– Làm phách bài thi, kiểm bài (Mã 1)Tổ thư ký, Tổ làm phách

18.7.2020

(7 giờ 30)

– Làm phách bài thi (Mã 1, Mã 2)

– Chuẩn bị thiết bị tổ lên điểm bài thi tự luận

Tổ thư ký, Tổ làm phách, Tổ lên điểm bài thi tự luận

19.7.2020

(9 giờ 30)

– Thảo luận đáp án, hướng dẫn nghiệp vụ chấm tự luận.

– Tiếp nhận dữ liệu lúc đã điều chỉnh các sơ sót từ Phòng Giáo dục và Tập huấn.

Tổ trưởng, tổ phó chấm Tổ thư ký
19.7.2020 (13 giờ 30)– Mở màn chấm thi chính thức.Ban chấm thi
Từ 24.7.2020 tới 26.7.2020 (dự kiến)– Đối sánh kết quả bài thi với kết quả trên máy tính. Ghép điểm thi.Ban chấm thi, Tổ thư ký và Tổ làm phách
27.7.2020 (dự kiến)

– Gửi kết quả thi về Phòng giáo dục và tập huấn các quận, huyện.

– Thông báo kết quả thi.

Ban chấm thi Trường phổ thông
28.7.2020 (dự kiến)– In giấy báo điểm tuyển sinh 10Trường phổ thông
Từ 27.7.2020 tới 29.7.2020– Nhận đơn xin phúc khảo bài thiTrường phổ thông
29.7.2020 (Dự kiến)– Thông báo kết quả điểm số và điểm chuẩn tuyển sinh trung học phổ thông chuyên, tích hợp và diện tuyển thẳng.Sở Giáo dục và Tập huấn
Từ 29.7.2020 tới 16 giờ 00 ngày 01.8.2020– Thí sinh trúng tuyển trung học phổ thông chuyên, tích hợp và diện tuyển thẳng nộp hồ sơ nhập học tại trường đã trúng tuyển. Sau 16 giờ 00 ngày 01 tháng 8 năm 2020, thí sinh ko nộp hồ sơ nhập học thì trường sẽ xóa tên trong danh sách trúng tuyển.Các cơ sở giáo dục
03.8.2020– Các trường nộp danh sách và cập nhật vào hệ thống danh sách học trò đã đăng ký học về Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục.Các cơ sở giáo dục
30.7.2020– Chuyển dữ liệu phúc khảo cho Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dụcPhòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện
01.8.2020 (dự kiến)– Sở Giáo dục và Tập huấn chuyển dữ liệu phúc khảo cho Hội đồng thiPhòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
02.8.2020– Tổ chức chấm phúc khảoTổ phúc khảo

03.8.2020
(7 giờ 30)

– Cán bộ chấm phúc khảo có mặt tại vị trí chấm thi, mở đầu chấm phúc khảoTổ phúc khảo
04.8.2020 (dự kiến)– Thông báo kết quả chấm phúc khảo (tạm thời)Hội đồng thi tuyển sinh Thành phố

05.8.2020

(dự kiến)

– In giấy báo điểm tuyển sinh 10 cho các thí sinh có đăng ký phúc khảo và thu hồi phiếu điểm đã cấp trước đây.Trường phổ thông
21.8.2020– Họp Ban Chỉ đạo quận, huyện và Hiệu trưởng trường trung học phổ thông để thống nhất điểm chuẩn tuyển sinh 10. Tại hội trường 2.1- Sở Giáo dục và Tập huấnHội đồng thi tuyển sinh Thành phố
21.8.2020

– Thông báo điểm chuẩn tuyển sinh 10 và danh sách thí sinh trúng tuyển vào lớp 10.

Các trường trung học phổ thông có tuyển sinh 10

Từ 21.8.2020 tới 16 giờ 00 ngày 29.8.2020– Thí sinh trúng tuyển trung học phổ thông nộp hồ sơ nhập học tại trường đã trúng tuyển. Sau 16 giờ 00 ngày 29 tháng 8 năm 2020, thí sinh ko nộp hồ sơ nhập học thì trường sẽ xóa tên trong danh sách trúng tuyển.Các trường trung học phổ thông có tuyển sinh 10
31.8.2020– Hội đồng tuyển sinh của trường họp để sơ kết việc tiếp thu học trò vào học và gửi báo cáo về Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục.Các trường trung học phổ thông có tuyển sinh 10
03.9.2020– Tiếp nhận danh sách học trò đăng ký nhập học của các trường trung học phổ thông có tuyển sinh 10 thuộc: Quận 1, Quận 2, Quận 3, Quận 4, Quận 5, Quận 6, Quận 7, Quận 8, Quận 9, Quận 10, Quận 11, Quận 12.Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
04.9.2020– Tiếp nhận danh sách học trò đăng ký nhập học của các trường trung học phổ thông có tuyển sinh 10 thuộc: Bình Thạnh, Phú Nhuận, Nhà Bè, Tân Bình, Tân Phú, Gò Vấp, Thủ Đức, Bình Tân, Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Cần Giờ.Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục

Nơi nhận:
– Như trên;
– Ban Giám đốc Sở GD&ĐT;
– Các Phòng, ban Sở GD&ĐT;
– Lưu: VP, KTKĐCLGD.

KT. GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC



Nguyễn Văn Hiếu


Thông tin thêm

Công văn 1402/GDĐT-KTKĐCLGD

[rule_3_plain]

Vào ngày 18/05/2020 Sở Giáo dục và Tập huấn thị thành Hồ Chính minh đã ban hành Công văn 1402/GDĐT-KTKĐCLGD về việc hướng dẫn tuyển sinh vào lớp 10. Hiệu lực của văn bản pháp luật này sẽ diễn ra từ ngày được ban hành chính thức. Sau đây, chúng tôi xin mời các bạn cùng tham khảo nội dung cụ thể của công văn này.

ỦY BAN NHÂN DÂN THANH PHÔ HỒ CHÍ MINHSỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
——-Số: 1402/GDĐT-KTKĐCLGD Về hướng dẫn thi tuyển vào lớp 10 trung học phổ thông năm học 2020 – 2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc —————
Thành phố Hồ Chí Minh,ngày 18 tháng 5 năm 2020

Kính gửi:

– Trưởng phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện;– Hiệu trưởng trường trung học phổ thông;– Giám đốc trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên;– Giám đốc trung tâm Giáo dục thường xuyên;– Hiệu trưởng trường có phân hiệu Bổ túc văn hóa.

Căn cứ Thông tư số 11/2014/TT-BGDĐT ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Tập huấn về việc ban hành Quy chế tuyển sinh trung học cơ sở và tuyển sinh trung học phổ thông;
Căn cứ Thông tư số 05/2018/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 02 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Tập huấn về việc sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2, khoản 2 Điều 4, điểm d khoản 1 và đoạn đầu khoản 2 Điều 7 của Quy chế tuyển sinh trung học cơ sở và tuyển sinh trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 11/2014/TT-BGDĐT ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Tập huấn;
Căn cứ Quyết định số 1557/QĐ-UBND ngày 12 tháng 5 năm 2020 của Ủy ban nhân dân thị thành về ban hành Kế hoạch huy động trẻ ra lớp và tuyển sinh vào các lớp đầu cấp từ năm học 2020 – 2021.
Sở Giáo dục và Tập huấn hướng dẫn việc thi tuyển vào lớp 10 trung học phổ thông năm học 2020 – 2021 như sau:
Trưởng phòng Giáo dục và Tập huấn, Hiệu trưởng trường trung học phổ thông, Hiệu trưởng trường trung học cơ sở, Giám đốc trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên, Giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên, Hiệu trưởng trường có phân hiệu bổ túc văn hóa (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng trường phổ thông) cần tổ chức cho toàn thể cán bộ quản lý, thầy cô giáo, học trò, học viên (sau đây gọi chung là học trò) nghiên cứu học tập quy chế tuyển sinh trung học cơ sở và tuyển sinh trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 11/2014/TT-BGDĐT ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Tập huấn, Thông tư số 05/2018/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 02 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Tập huấn về việc sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2, khoản 2 Điều 4, điểm d khoản 1 và đoạn đầu khoản 2 Điều 7 của Quy chế tuyển sinh trung học cơ sở và tuyển sinh trung học phổ thông theo Thông tư số 11/2014/TT-BGDĐT ngày 18 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Tập huấn (gọi tắt là Quy chế 11), Kế hoạch huy động trẻ ra lớp và tuyển sinh vào các lớp đầu cấp từ năm học 2020 – 2021 theo Quyết định số 1557/QĐ-UBND ngày 12 tháng 5 năm 2020 của Ủy ban nhân dân thị thành (gọi tắt là Kế hoạch 1557) và hướng dẫn này của Sở Giáo dục và Tập huấn.
I. PHƯƠNG THỨC TUYỂN SINH
Thực hiện theo Kế hoạch 1557.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐIỀU KIỆN DỰ TUYỂN
Những học trò đã học lớp 9 tại các trường phổ thông có hồ sơ hợp thức và có đủ các điều kiện sau đây được dự tuyển vào lớp 10 trung học phổ thông:
1. Tốt nghiệp trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Tuổi của học trò vào học lớp 10 là 15 tuổi.
– Đối với những học trò được học vượt lớp ở cấp học trước hoặc học trò vào cấp học ở độ tuổi cao hơn tuổi quy định thì tuổi vào lớp 10 được giảm hoặc tăng căn cứ vào tuổi của năm tốt nghiệp cấp học trước.
– Học trò là người dân tộc thiểu số, học trò khuyết tật, học trò có hoàn cảnh đặc trưng khó khăn, học trò ở nước ngoài về nước có thể vào cấp học ở tuổi cao hơn 3 tuổi so với tuổi quy định.
Sở Giáo dục và Tập huấn ủy nhiệm cho Trưởng phòng Giáo dục và Tập huấn duyệt điều kiện dự tuyển sinh vào lớp 10 của học trò tốt nghiệp trung học cơ sở trên khu vực quận, huyện.
III. HỒ SƠ DỰ TUYỂN
1. Hồ sơ dự tuyển
a. Phiếu đăng ký xét tốt nghiệp trung học cơ sở và thi tuyển vào lớp 10 trung học phổ thông (theo mẫu) (sau đây gọi là Phiếu đăng ký).
b. Ba ảnh 3cm x 4cm (ảnh chụp ko quá 1 năm, kiểu ảnh chứng minh nhân dân, phía sau ảnh ghi rõ họ tên, tháng ngày năm sinh, nơi sinh) (một ảnh dán vào Phiếu đăng ký, một ảnh dán vào phiếu báo danh, một ảnh dán vào phiếu dự thi và rà soát hồ sơ).
c. Học bạ cấp trung học cơ sở (bản chính).
d. Bằng tốt nghiệp trung học cơ sở (bản chính) hoặc giấy chứng thực tốt nghiệp (tạm thời) trong năm dự tuyển do Hiệu trưởng trường phổ thông cấp.
đ. Bản sao khai sinh hợp thức.
e. Giđó chứng thực hợp thức thừa hưởng cơ chế cộng điểm ưu tiên do cơ quan có thẩm quyền cấp.
f. Hồ sơ tuyển thẳng vào lớp 10 trung học phổ thông: ngoài hồ sơ dự tuyển nêu trên, cần bổ sung thêm 02 bản photo công chứng các giấy tờ thuộc diện miễn thi.
2. Xem xét lựa chọn ước vọng:
– Học trò đăng ký 3 ước vọng theo trật tự ưu tiên 1, 2, 3 vào lớp 10 các trường trung học phổ thông công lập thích hợp với năng lực học tập của bản thân, gần nơi trú ngụ để thuận tiện cho việc tiếp tục đi học lúc đã trúng tuyển và giảm sức ép giao thông theo chủ trương của thị thành;
– Học trò đã học tiếng Nhật Ngoại ngữ 1 tại Trường Trung học cơ sở Lê Quý Đôn, Quận 3 và Trường Trung học cơ sở Võ Trường Toản, Quận 1 nếu muốn tiếp tục chọn tiếng Nhật là Ngoại ngữ 1 lúc lên lớp 10, cần đăng ký 3 ước vọng là 3 trường trung học phổ thông (Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn, Trường Trung học phổ thông Trưng Vương, Trường Trung học phổ thông Marie Curie) có tuyển sinh lớp 10 tiếng Nhật Ngoại ngữ 1.
– Học trò đã học tiếng Đức Ngoại ngữ 1 tại Trường Trung học cơ sở Lê Quý Đôn, Quận 3 và Trường Trung học cơ sở Võ Trường Toản, Quận 1 nếu tiếp tục chọn tiếng Đức là Ngoại ngữ 1 lúc lên lớp 10, cần đăng ký ước vọng vào 2 trường trung học phổ thông: Trường Trung học phổ thông Chuyên Trần Đại Nghĩa, Trường Trung học phổ thông Marie Curie.
– Trường Trung học phổ thông Thủ Đức tuyển sinh lớp 10 tiếng Hàn.Việc tuyển sinh vào các lớp 10 tiếng Hàn (Ngoại ngữ 2) được thực hiện trong số học trò đã trúng tuyển vào lớp 10 của trường.
– Học trò học tiếng Pháp thực hiện đúng theo Kế hoạch huy động trẻ ra lớp và tuyển sinh vào các lớp đầu cấp của Ủy ban nhân dân thị thành ban hành.
– Trường Trung học phổ thông năng khiếu Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Sở Văn hóa, Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh ngoài tuyển sinh chung theo tiêu chí của Sở Giáo dục và Tập huấn. Trường có tuyển sinh riêng với điều kiện thí sinh phải có thêm giấy chứng thực là vận động viên các tuyến hoặc thẻ học trò của trường nghiệp vụ Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh.
– Trường Trung học phổ thông chuyên năng khiếu Thể dục thể thao Nguyễn Thị Định; Trường Trung học phổ thông Thể dục thể thao Bình Chánh ngoài tuyển sinh chung theo tiêu chí của Sở Giáo dục và Tập huấn. Ngoài ra, trường còn tuyển sinh riêng theo Kế hoạch 1557.
Đối với học trò học lớp tích hợp thực hiện đúng theo Kế hoạch huy động trẻ ra lớp và tuyển sinh vào các lớp đầu cấp của Ủy ban nhân dân thị thành ban hành. Sở Giáo dục và Tập huấn có văn bản hướng dẫn tuyển sinh 10 chương trình tích hợp.
IV. CHẾ ĐỘ ƯU TIÊN
Thực hiện theo Kế hoạch 1557.
V. THÀNH LẬP BAN CHỈ ĐẠO QUẬN, HUYỆN VÀ HỘI ĐỒNG TUYỂN SINH
– Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện chỉ huy và tổ chức tập huấn cho Hiệu trưởng trường phổ thông và thầy cô giáo chủ nhiệm lớp 9 để tư vấn, hướng dẫn kỹ lưỡng cho phụ huynh học trò và học trò quyết định đăng ký ước vọng (đảm bảo thuận tiện đi lại, thích hợp với hoàn cảnh gia đình và năng lực học tập của bản thân học trò). Thực hiện tốt công việc hướng nghiệp và phân luồng học trò sau trung học cơ sở.
1. Ban Chỉ đạo quận, huyện
Mỗi quận, huyện thành lập Ban Chỉ đạo xét tốt nghiệp và tuyển sinh với thành phần:
– Trưởng ban: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện.
– Phó trưởng ban túc trực: Trưởng phòng Giáo dục và Tập huấn.
– Các ủy viên là lãnh đạo và chuyên viên của Phòng Giáo dục và Tập huấn, các Ban, ngành của quận, huyện có liên quan và Hiệu trưởng trường trung học phổ thông trên khu vực của quận, huyện.
2. Hội đồng tuyển sinh của trường
Mỗi trường trung học phổ thông thành lập một Hội đồng tuyển sinh gồm:
– Chủ tịch: Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng.
– Phó Chủ tịch: Phó Hiệu trưởng.
– Thư ký: chọn từ Thư ký Hội đồng trường hoặc các tổ trưởng chuyên môn.
– Ủy viên: Chủ tịch công đoàn cơ sở, trợ lý thanh niên và chọn trong các tổ trưởng chuyên môn, thầy cô giáo chủ nhiệm, thầy cô giáo dạy các môn học có kinh nghiệm, có phẩm chất đạo đức tốt và có ý thức trách nhiệm cao.
Các trường trung học phổ thông gửi công văn đề xuất danh sách Hội đồng tuyển sinh về Phòng Tổ chức Cán bộ – Sở Giáo dục và Tập huấn để Giám đốc Sở Giáo dục và Tập huấn ra quyết định thành lập Hội đồng tuyển sinh của từng trường.
VI. CÁC CÔNG VIỆC THỰC HIỆN TRONG CÔNG TÁC TUYỂN SINH LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1. Sở Giáo dục và Tập huấn:
– Thông báo Kế hoạch 1557.
– Giới thiệu và thông báo rộng rãi các trường phổ thông và trung cấp trên khu vực thị thành (có tuyển học trò đã tốt nghiệp trung học cơ sở, tên trường, địa chỉ, nội dung giảng dạy, học phí và điều kiện theo học) in thành thông báo cụ thể gửi tới từng phụ huynh học trò lớp 9 để phụ huynh học trò và học trò chọn ghi ước vọng.
– Tổ chức tập huấn cho Ban Chỉ đạo tuyển sinh các quận, huyện, các trường trung học phổ thông, họp báo và thực hiện giao lưu trực tuyến rộng rãi tới phụ huynh học trò và học trò.
– Thực hiện công việc tổ chức thi tuyển vào lớp 10 các trường trung học phổ thông công lập.
– Thông báo kết quả điểm cho học trò.
– Thông báo điểm chuẩn của các trường, lớp chuyên trung học phổ thông.
– Thông báo điểm chuẩn của các trường trung học phổ thông công lập.
2. Ban Chỉ đạo quận, huyện
– Chỉ đạo công việc thanh tra, rà soát công việc tuyển sinh.
– Chỉ đạo và tổ chức tập huấn cho Hiệu trưởng trường phổ thông, thầy cô giáo chủ nhiệm lớp 9 về công việc tuyển sinh lớp 10. Thực hiện tốt công việc hướng nghiệp và phân luồng học trò sau trung học cơ sở.
– Nhận bàn giao Ban Lãnh đạo Điểm thi trên khu vực từ Hội đồng coi thi tuyển sinh 10 Thành phố.
– Ban Chỉ đạo quận, huyện họp các lãnh đạo Điểm thi triển khai công việc coi thi.
– Nhận đề thi từ Hội đồng ra và in sao đề thi; bảo quản đề thi và chuyển đề thi tới Điểm thi từng ngày (theo lịch thi).
– Chuyển giao bài thi về tổ Thư ký tại vị trí chấm thi sau lúc kết thúc các môn thi trong ngày.
3. Phòng Giáo dục và Tập huấn
– Dự tập huấn tại Sở Giáo dục và Tập huấn về công việc xét tốt nghiệp trung học cơ sở và tuyển sinh lớp 10.
– Lập và gửi danh sách cán bộ coi thi, cán bộ chấm thi, viên chức phục vụ tại chỗ (đối với cơ sở giáo dục được chọn làm điểm thi) về Sở Giáo dục và Tập huấn (Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục).
– Thông báo, điều động cán bộ coi thi, cán bộ chấm thi theo chỉ huy của Hội đồng thi tuyển sinh 10 thị thành.
– Kiểm tra và đôn đốc các đơn vị cơ sở cập nhật danh sách học trò đăng ký thi tuyển lớp 10 lên hệ thống để chuyển dữ liệu về cho Sở Giáo dục và Tập huấn. Kiểm tra, rà soát số liệu ước vọng đã đăng ký của học trò trên khu vực đặc trưng các thí sinh đăng ký xa nơi trú ngụ.
– Tổng hợp gửi danh sách và hồ sơ thí sinh tuyển thẳng vào lớp 10 trung học phổ thông về Sở Giáo dục và Tập huấn.
– Chỉ đạo và rà soát các trường việc thực hiện hồ sơ dự thi và điều kiện dự thi của học trò.
– Các Phiếu đăng ký dự tuyển lớp 10 phải được niêm phong bảo quản tốt tại Phòng Giáo dục và Tập huấn, ko gửi về điểm thi; chỉ sau lúc có kết quả trúng tuyển vào lớp 10, Phòng Giáo dục và Tập huấn mới mở niêm phong để trả lại Phiếu đăng ký và kèm vào hồ sơ của học trò.
– Nhận kết quả tuyển sinh lớp 10 từ Hội đồng thi tuyển sinh 10 Thành phố, chuyển về cho các trường phổ thông.
4. Trường phổ thông
– Dự tập huấn về công việc xét tốt nghiệp trung học cơ sở và tuyển sinh lớp 10.
– Tổ chức cho phụ huynh học trò và học trò tìm hiểu về xét tốt nghiệp trung học cơ sở và thi tuyển vào lớp 10. Học trò làm Phiếu đăng ký và nộp tại trường phổ thông nơi học lớp 9.
– Tư vấn cho học trò lựa chọn 3 ước vọng theo trật tự ưu tiên 1, 2, 3 vào lớp 10 các trường trung học phổ thông công lập (ko buộc phải phải ghi đủ 3 ước vọng nếu thấy ko cần thiết) thực hiện điền Phiếu đăng ký (theo mẫu) và nộp tại trường phổ thông nơi học lớp 9.
– Kiểm tra, rà soát số liệu ước vọng đã đăng ký của học trò. Đối với những trường hợp học trò đăng ký ước vọng vào lớp 10 trung học phổ thông xa nơi trú ngụ, Hiệu trưởng trường phổ thông tư vấn riêng với phụ huynh học trò, đề xuất phụ huynh chứng minh điều kiện đảm bảo cho học trò học tập tại trường đã đăng ký theo ước vọng, cam kết ko thay đổi ước vọng lúc đã trúng tuyển.
– Tiếp nhận hồ sơ học trò đăng ký dự tuyển lớp 10.
– Kiểm tra toàn thể hồ sơ đăng ký dự thi và các hồ sơ có liên quan tới kỳ thi, xem xét điều kiện dự thi của thí sinh, xác nhận tư cách thí sinh, quyết định ko cho thí sinh dự thi nếu ko đủ điều kiện dự thi và hồ sơ ko hợp thức.
– Bảo quản đầy đủ hồ sơ dự thi và danh sách thí sinh đăng ký dự thi; xuất trình kịp thời phục vụ công việc thanh tra, rà soát và yêu cầu tu sửa (nếu có).
– Lập danh sách thí sinh, cập nhật vào hệ thống danh sách thí sinh cho Phòng Giáo dục và Tập huấn đúng thời kì qui định.
– Lập phiếu báo danh phát cho học trò.
– In phiếu báo điểm cho học trò lúc có kết quả.
– Đóng dấu treo trên phiếu báo điểm lớp 10.
– Phát phiếu báo điểm cho học trò.
VII. TỔ CHỨC THI TUYỂN
1. Lịch thi
Thí sinh dự thi các bài thi theo lịch sau:

Ngày thi
Buổi
Bài thi
Thời gian làm bài
Giờ mở túi đựng đề thi
Giờ phát đề thi
Giờ mở đầu làm bài

15.7.2020(9 giờ 30 phút)
Sáng
Học trò có mặt tại Điểm thi để sinh hoạt Quy chế thi và rà soát thông tin tư nhân.

16.7.2020
SángChiều
Ngữ vănNgoại Ngữ
120 phút60 phút
7 giờ 4013 giờ 40
7 giờ 5513 giờ 55
8 giờ 0014 giờ 00

17.7.2020
Sáng
Toán
120 phút
7 giờ 40
7 giờ 55
8 giờ 00

2. Thứ tự ưu tiên xét tuyển
– Những học trò được dự xét tuyển là những học trò dự thi đủ ba bài thi tuyển sinh vào lớp 10 và ko có bài thi nào bị điểm 0 (ko).
– Điểm xét tuyển: là tổng điểm 3 bài thi tuyển sinh vào lớp 10 (trong đó bài thi Ngữ văn và bài thi Toán hệ số 2, bài thi ngoại ngữ hệ số 1) và điểm ưu tiên.
– Ở một trường, điểm chuẩn ước vọng 2 cao hơn điểm chuẩn ước vọng 1 và điểm chuẩn ước vọng 3 cao hơn điểm chuẩn ước vọng 2 ko quá 1 điểm (tuy nhiên có những trường hợp đặc trưng hệ thống máy tính cho kết quả ước vọng 1 bằng ước vọng 2, ước vọng 2 bằng ước vọng 3 hoặc cả 3 ước vọng bằng nhau)
3. Kiểm tra hồ sơ thí sinh
– Các trường cần rà soát kỹ hồ sơ dự tuyển (đối chiếu giữa học bạ, giấy khai sinh, các văn bằng, chứng thực,… đảm bảo xác thực tuyệt đối họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh (ghi đủ quận, huyện, tỉnh, thành), ghi đầy đủ các cột mục, ko bị rách nát, tẩy xóa, có đầy đủ chữ ký của người chịu trách nhiệm từng phần và của cấp quản lý,…), lập phiếu rà soát hồ sơ, danh sách học trò (theo mẫu của Sở Giáo dục và Tập huấn) đúng với khai sinh, học bạ, ghi chú các trường hợp thừa hưởng cơ chế ưu tiên nếu có. Kiểm tra toàn thể hồ sơ đăng ký dự tuyển và các hồ sơ có liên quan tới kỳ thi, xem xét điều kiện dự tuyển của thí sinh, xác nhận tư cách thí sinh, quyết định ko cho thí sinh dự tuyển nếu ko đủ điều kiện và hồ sơ hợp thức. Hiệu trưởng hoàn toàn chịu trách nhiệm về điều kiện dự tuyển của học trò trong trường.
– Trước ngày thi 2 ngày, Hiệu trưởng trường phổ thông ủy nhiệm cho cán bộ, thầy cô giáo đại diện trường mang toàn thể hồ sơ của thí sinh (đã sắp xếp theo từng phòng thi của mỗi Điểm thi) tới các Điểm thi để phục vụ yêu cầu rà soát hồ sơ thí sinh. Hồ sơ thí sinh được lưu giữ tại điểm thi trong các ngày thi; Phó trưởng Điểm thi sở tại chịu trách nhiệm nhận, bảo quản, giao trả hồ sơ sau lúc thi xong (lúc nhận, giao trả hồ sơ đều phải rà soát kỹ số lượng và lập thành biên bản).
Ngoài việc Hiệu trưởng chịu trách nhiệm về hồ sơ dự tuyển và điều kiện dự tuyển của học trò, Trưởng Điểm thi rà soát toàn thể hồ sơ đăng ký dự tuyển và các hồ sơ có liên quan tới kỳ thi, xem xét điều kiện dự tuyển của thí sinh, xác nhận tư cách thí sinh. Khi phát hiện thí sinh ko đủ hồ sơ hợp thức trong quá trình rà soát hồ sơ tại Điểm thi, Trưởng Điểm thi sau lúc cân nhắc cẩn thận có thể quyết định xóa tên ko cho thí sinh dự thi, Hiệu trưởng trường phổ thông có thí sinh bị xóa tên chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên của sự việc trên.
Việc rà soát hồ sơ thí sinh có thể thực hiện ngay từ ngày họp Ban Lãnh đạo Điểm thi (trước ngày thi 2 ngày) hoặc ngay sau buổi họp toàn thể Điểm thi (trước ngày thi 1 ngày), cán bộ coi thi rà soát hồ sơ do Trưởng Điểm thi phân công (trong danh sách cán bộ coi thi). Trong thời kì các Điểm thi rà soát hồ sơ thí sinh, các trường phổ thông có học trò dự thi phải cử người trực để tiếp thu thông tin từ các Điểm thi và kịp thời bổ sung, giải trình,…
Các trường hợp thất thường của hồ sơ được khắc phục như sau:
– Sau lúc Trưởng Điểm thi trao đổi với đại diện đơn vị (nếu có) hoặc trực tiếp với Hiệu trưởng trường phổ thông nhưng vẫn ko được sự nhất trí thì Trưởng Điểm thi cho lập biên bản trình Lãnh đạo Hội đồng tuyển sinh 10 thị thành xem xét (qua tổ Thư ký tại vị trí chấm thi).
– Các trường hợp họ, tên, ngày, nơi sinh,… của thí sinh trong học bạ, văn bằng, chứng thực, danh sách,… ko thích hợp với khai sinh hợp thức: Hiệu trưởng trường phổ thông có trách nhiệm tổ chức điều chỉnh sau; riêng danh sách phòng thi và phiếu thu bài sẽ được Trưởng Điểm thi điều chỉnh ngay cho thích hợp với khai sinh và theo hồ sơ hợp thức hiện có, lập biên bản (theo mẫu điều chỉnh).
– Riêng các trường hợp phải xóa tên ngay: nếu thấy chưa vững chắc và ko để thí sinh có thể bị thiệt thòi về quyền lợi thi, Trưởng Điểm thi có thể xử lý như trường hợp thiếu hồ sơ (lập biên bản, vẫn cho thi).
– Biên bản về sơ sót của hồ sơ được lập thành bốn bản:
+ Một bản Trưởng Điểm thi giữ.
+ Một bản gửi Hiệu trưởng trường phổ thông có thí sinh dự thi trong thời kì sớm nhất.
+ Một bản gửi kèm theo hồ sơ về tổ thư ký (tại vị trí chấm thi).
+ Một bản gửi Trưởng Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện ngay sau lúc hoàn thành việc rà soát hồ sơ thí sinh.
– Hiệu trưởng trường phổ thông có thí sinh dự thi, sau lúc tiếp thu biên bản của các Điểm thi, có trách nhiệm tổ chức, điều chỉnh, thông báo cho phụ huynh học trò và học trò bổ sung điều chỉnh tại tổ Thư ký nơi chấm thi. Nếu ko bổ túc hồ sơ đầy đủ, hợp thức tại tổ Thư ký nơi chấm thi trong vòng 3 ngày sau ngày thi môn cuối cùng của kỳ thi thì Hội đồng thi tuyển sinh 10 Thành phố sẽ xử lý như ko đủ điều kiện dự thi hoặc hồ sơ ko hợp thức.
Các trường hợp nghiêm trọng: cần lập biên bản và báo cáo ngay với túc trực Ban Chỉ đạo kỳ thi tại Phòng Giáo dục và Tập huấn và báo cáo Hội đồng thi tuyển sinh 10 thị thành để phối hợp khắc phục.
– Hiệu trưởng trường phổ thông phải chú ý cho rà soát nhiều lần: in ra danh sách để kiểm dò và yêu cầu học trò ký tên xác nhận đã đọc rõ các cụ thể; đặc trưng xem xét: diện ưu tiên chính sách, điểm khuyến khích cộng thêm, ngoại ngữ, môn chuyên (nếu có),… Giáo viên chủ nhiệm phải nêu rõ và đủ các cụ thể của hồ sơ học trò để từng học trò nắm lại và có ý kiến.
– Các loại giấy chứng thực để thừa hưởng cơ chế ưu tiên nếu bổ sung sau ngày thi môn cuối cùng của kỳ thi sẽ ko có trị giá hưởng cộng điểm cho cơ chế ưu tiên.
4. Tổ chức các Điểm thi
4.1. In danh sách phòng thi, phiếu thu bài, phát thẻ dự thi
Phòng Giáo dục và Tập huấn nhận dữ liệu từ hệ thống của Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục – Sở Giáo dục và Tập huấn thực hiện thực hiện như sau:
– Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện quy hoạch cụm trường thi (mỗi quận, huyện phân thành 2 – 5 cụm) theo địa bàn thuận tiện cho việc đi lại của thí sinh và lập danh sách học trò thi tại cụm đó (ứng dụng vi tính do Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục hướng dẫn); lúc ghép học trò nhiều trường vào cùng một Điểm thi (liên trường) cần chú ý ko để tỉ lệ học trò của một trường nào đó quá nhỏ (nhất là lúc ghép có hai trường).
– Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện nhận lại dữ liệu từ hệ thống tại Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục danh sách thí sinh đã đánh số báo danh, từ đây in ra bảng danh sách phòng thi và phiếu thu bài của từng phòng thi, tổ chức cho trường lập thẻ dự thi (theo mẫu) và phát thẻ dự thi tới học trò.
4.2. Danh sách Lãnh đạo của một Điểm thi gồm Trưởng Điểm thi, 2 Phó trưởng Điểm thi, 2 thư ký, danh sách cán bộ coi thi và viên chức phục vụ do Trưởng Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện và Hiệu trưởng trường phổ thông đề cử, Sở Giáo dục và Tập huấn ra quyết định theo các bước sau:
Bước 1: Sở Giáo dục và Tập huấn gửi tới từng quận, huyện và trường phổ thông bản nhu cầu về số cán bộ coi thi cần cử tới từng Điểm thi của quận, huyện khác; bản nhu cầu về 1 Phó trưởng Điểm thi, viên chức phục vụ của Điểm thi tại chỗ; bản nhu cầu về Trưởng Điểm thi, 1 Phó trưởng Điểm thi, 2 thư ký của quận, huyện tới Điểm thi khác.
Bước 2: Dựa vào các bản nhu cầu trên, Trưởng Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện, Hiệu trưởng trường phổ thông lập danh sách cán bộ được cử đi coi thi ở quận, huyện khác, danh sách Phó trưởng Điểm thi, viên chức phục vụ tại chỗ và danh sách Trưởng Điểm thi, 1 Phó trưởng Điểm thi, 2 thư ký đi nơi khác.
Mỗi loại danh sách lập thành 1 bản có ký tên đóng dấu và gửi kèm theo đĩa CD về Sở Giáo dục và Tập huấn, đồng thời gửi qua mạng internet danh sách cán bộ coi thi, chấm thi.
Bước 3: Khi thu được các bản danh sách trên, Sở Giáo dục và Tập huấn ký duyệt trên danh sách đề xuất và đồng thời:
– Gửi về Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện, Hiệu trưởng trường phổ thông một bản (để Ban Chỉ đạo quận, huyện và Hiệu trưởng trường phổ thông sao gửi thông báo tới thầy cô giáo và lãnh đạo trường, xem như đây là giấy triệu tập).
– Gửi 01 bản kèm vào hồ sơ của Ban Lãnh đạo Điểm thi.
– Gửi 01 bản cho Ban Chỉ đạo quận, huyện nơi coi thi.
4.3. Các Điểm thi phải sắp đặt bàn, hoặc ghế, hoặc giá đỡ, hoặc tủ,… bên ngoài mỗi phòng thi để thí sinh để tài liệu, đồ vật; tránh để tài liệu, đồ vật ngổn ngang, lộn xộn dưới nền nhà. Thông báo cho học trò biết: những tài liệu, đồ vật của thí sinh để ngoài phòng thi bị hư hỏng, mất,… Điểm thi ko chịu trách nhiệm.
Mỗi phòng thi được sắp đặt 24 chỗ ngồi cho thí sinh, cần chú ý khoảng cách bàn ghế, chỗ ngồi của thí sinh (2 học trò ngồi cạnh nhau theo hàng ngang phải cách nhau ít nhất 1,2 mét), đủ chuẩn về vệ sinh, ánh sáng, bàn ghế.
4.4. Khi họp Ban Lãnh đạo Điểm thi
– Cần rà soát kỹ lại danh sách thí sinh, các ấn chỉ, biểu mẫu, phù hiệu của cán bộ coi thi (viên chức phục vụ Điểm thi cũng phải đeo phù hiệu), danh sách cán bộ coi thi, dành thời kì liên hệ với đơn vị cử thầy cô giáo tới coi thi xem có gì sơ sót hoặc ko khớp về danh sách cán bộ coi thi.
– Kiểm tra, xem xét vấn đề phục vụ, bảo vệ an ninh Điểm thi, điện, nước, âm thanh, ánh sáng, điện thoại, sẵn sàng phương án lúc cúp điện, có máy phát điện dự phòng, có giải pháp phòng ngừa mưa to, gió lớn,… xem xét vấn đề y tế, vệ sinh, nước uống cho thí sinh,…
– Chú ý xem xét kỹ trong và ngoài điểm thi, có giải pháp phòng chống, phát hiện việc liên thông trong, ngoài phạm vi quy định tổ chức thi (cửa sổ trông ra ngoài ko có rào, gần đường,…).
– Trong các ngày thi: căn-tin ko được hoạt động; nếu trong khuôn viên điểm thi có người ở thì yêu cầu ko đi lại trong khu vực của Điểm thi, ko được có những hoạt động, hành vi vi phạm tới sự an toàn, tính nghiêm túc của kỳ thi.
– Phòng ngừa sự cố thiếu đề thi: sẵn sàng sẵn máy photocopy, giấy trắng A3, A4 để trong văn phòng Điểm thi. Việc sao in đề thi sử dụng máy photocopy do Trưởng Điểm thi quyết định. Sau đó lập biên bản và báo cáo lãnh đạo Ban chỉ huy kỳ thi tại quận, huyện.
– Việc ra vào Điểm thi phải được sự chấp thuận của Trưởng Điểm thi.
– Điểm thi phải tự liên hệ với địa phương (Ủy ban nhân dân, Công an phường, quận) để được hỗ trợ về bảo vệ, an ninh kỳ thi, điện, nước,… (do Phó trưởng Điểm thi là người sở tại chịu trách nhiệm).
4.5. Tăng lên ý thức trách nhiệm của cán bộ làm nhiệm vụ coi thi; thầy cô giáo, cán bộ coi thi phải được quán triệt về trách nhiệm, quyền hạn và nghiệp vụ của cán bộ coi thi, cán bộ giám sát phòng thi,… trước lúc được phân công coi thi (Trưởng Điểm thi phải thực hiện thật nghiêm túc việc bồi dưỡng nghiệp vụ này trong ngày họp toàn thể Điểm thi). Cần phải họp rút kinh nghiệm từng buổi coi thi và tổng kết việc coi thi trước toàn thể Điểm thi.
Nhắc nhở các thành viên Điểm thi làm hết trách nhiệm được giao và quy định cụ thể mức độ khen thưởng, xử lý kỷ luật lúc làm nhiệm vụ.
Trước mỗi buổi thi: Trưởng Điểm thi đảm bảo các phương tiện thu, phát thông tin tư nhân (nếu có) của tất cả những người làm nhiệm vụ tại Điểm thi phải được lưu giữ tại phòng trực của Điểm thi. Khi cần thông tin nguy cấp, cán bộ làm nhiệm vụ thi phải báo cáo Trưởng Điểm thi để xử lý..
Trưởng Điểm thi quy định cách đánh số báo danh trong phòng thi; tổ chức cho cán bộ coi thi, cán bộ giám sát phòng thi bắt thăm phân công coi thi, giám sát phòng thi.
Cán bộ coi thi chịu trách nhiệm trước Trưởng Điểm thi; thực hiện các công việc sau:
Phcửa ải có mặt đúng giờ tại Điểm thi để làm nhiệm vụ. Trong lúc thực hiện nhiệm vụ coi thi, ko được mang các thiết bị thu phát thông tin; ko được làm việc riêng, ko được hút thuốc, ko được sử dụng các loại đồ uống có cồn.
Khi có hiệu lệnh, CBCT thứ nhất gọi tên thí sinh vào phòng thi, CBCT thứ hai dùng Phiếu báo danh (có dán ảnh) và Danh sách của thí sinh dự thi để đối chiếu, nhận diện thí sinh; hướng dẫn thí sinh ngồi đúng chỗ quy định và rà soát các đồ vật thí sinh mang vào phòng thi, tuyệt đối ko để thí sinh mang vào phòng thi các tài liệu và đồ vật bị cấm theo quy định.
Khi có hiệu lệnh, CBCT thứ nhất đi nhận đề thi, CBCT thứ hai nhắc nhở thí sinh những điều cần thiết về kỷ luật phòng thi; ghi rõ họ tên và ký tên vào các tờ giấy thi, giấy nháp đủ để phát cho thí sinh (ko ký thừa); hướng dẫn và rà soát thí sinh gấp giấy thi đúng quy cách, ghi số báo danh và điền đủ thông tin thí sinh vào các mục cần thiết của giấy thi trước lúc làm bài.
Khi có hiệu lệnh, CBCT thứ nhất giơ cao phong bì đề thi để thí sinh thấy rõ cả mặt trước và mặt sau còn nguyên nhãn niêm phong, yêu cầu hai thí sinh chứng kiến và ký vào biên bản xác nhận bì đề thi còn nguyên nhãn niêm phong; mở bì đựng đề thi, rà soát số lượng đề thi (nếu thừa, thiếu hoặc lẫn đề thi khác, cần báo ngay cho Trưởng Điểm thi xử lý); phát đề thi cho từng thí sinh.
Khi thí sinh mở đầu làm bài, CBCT thứ nhất đối chiếu ảnh trong Phiếu báo danh và Danh sách dự thi của thí sinh với thí sinh để nhận diện thí sinh, ghi rõ họ tên và ký vào các tờ giấy thi, giấy nháp của thí sinh; CBCT thứ hai bao quát chung. Trong giờ làm bài, một CBCT bao quát từ đầu phòng tới cuối phòng, CBCT còn lại bao quát từ cuối phòng tới đầu phòng cho tới hết giờ thi; CBCT ko được đứng gần thí sinh, giúp sức thí sinh làm bài thi dưới bất kỳ hình thức nào; chỉ được trả lời công khai các câu hỏi của thí sinh trong phạm vi quy định.
CBCT phải bảo vệ đề thi trong giờ thi, ko để lọt đề thi ra ngoài phòng thi. Sau lúc tính giờ làm bài 15, CBCT nộp các đề thi thừa đã được niêm phong cho người được Trưởng Điểm thi phân công;
Chỉ cho thí sinh ra khỏi phòng thi sớm nhất sau 2 phần 3 thời kì làm bài sau lúc thí sinh đã nộp bài làm, đề thi và giấy nháp. Nếu thí sinh nhất quyết phải tạm thời ra khỏi phòng thi thì CBCT phải báo cho cán bộ giám sát phòng thi để phối hợp thực hiện theo quy định.
Nếu có thí sinh vi phạm kỷ luật thì CBCT phải lập biên bản xử lý theo đúng quy định. Nếu có tình huống thất thường phải báo cáo ngay cho Trưởng Điểm thi;
Trước lúc hết giờ làm bài 15 phút, CBCT thông báo thời kì còn lại cho thí sinh biết.
Khi có hiệu lệnh hết giờ làm bài, CBCT thứ nhất phải yêu cầu thí sinh ngừng làm bài và thực hiện thu bài, kể cả bài thi của thí sinh đã bị lập biên bản; CBCT thứ hai duy trì trật tự và kỷ luật phòng thi; CBCT thứ nhất vừa gọi tên từng thí sinh lên nộp bài thi vừa nhận bài thi của thí sinh. Khi nhận bài thi, phải đếm đủ số tờ giấy thi của từng bài, yêu cầu thí sinh tự ghi đúng số tờ giấy thi đã nộp và ký tên vào hai Phiếu thu bài thi. Thu xong toàn thể bài thi mới cho phép các thí sinh rời phòng thi;
Các CBCT rà soát, xếp bài thi theo trật tự tăng dần của số báo danh thí sinh trong phòng thi và cho vào túi đựng bài thi. CBCT thứ nhất trực tiếp mang túi đựng bài thi, hai Phiếu thu bài thi, các biên bản xử lý kỷ luật và tang vật kèm theo (nếu có) cùng CBCT thứ hai tới bàn ủy quyền thư ký Điểm thi ngay sau mỗi buổi thi. Khi bàn giao phải kiểm đếm công khai và đối chiếu số bài, số tờ của từng bài thi, Phiếu thu bài thi và các biên bản xử lý kỷ luật cùng tang vật kèm theo (nếu có);
Sau lúc kiểm đếm xong, bài thi và một Phiếu thu bài thi của mỗi phòng thi được đưa vào túi đựng bài thi của phòng thi đó; được thư ký Điểm thi cùng hai CBCT niêm phong tại chỗ. Nhãn niêm phong được dán vào chính giữa tất cả các mép dán của túi đựng bài thi, Trưởng Điểm thi và thư ký trực tiếp kiểm đếm ký và ghi rõ họ tên trên nhãn niêm phong, hai CBCT ký giáp lai giữa nhãn niêm phong và túi đựng bài thi rồi đóng dấu giáp lai nhãn niêm phong; sau đó, dùng băng keo trong suốt dán vòng quanh dọc theo chiều dài mép dán của túi đựng bài thi và phủ lên nhãn niêm phong. Thư ký Điểm thi và hai CBCT ghi rõ họ tên và ký vào biên bản bàn giao.
Những người tham gia tổ chức kỳ thi có hành vi vi phạm Quy chế thi bị xử lý theo Quy chế thi trung học phổ thông hiện hành.
Trước ngày thi, tập trung thí sinh sinh hoạt Quy chế thi và rà soát thông tin: trưởng Điểm thi phân công cán bộ hướng dẫn thí sinh tiền gian có mặt vào mỗi buổi thi; cách ghi thông tin vào giấy làm bài thi; rộng rãi Quy chế thi; xác nhận những sơ sót về họ, tên, nhân vật…Trong lúc cho thí sinh ký tên vào danh sách rà soát thông tin thí sinh, cán bộ được phân công yêu cầu thí sinh dò kỹ cụ thể trong danh sách, nếu thí sinh có yêu cầu điều chỉnh thì cán bộ được phân công lập biên bản báo cáo về Trưởng Điểm thi và Trưởng Điểm thi lập biên bản tổng hợp các sơ sót này (2 bản), một bản gửi về Phòng Giáo dục và Tập huấn để được điều chỉnh lại từ hệ thống (sau lúc đối chiếu lại với hồ sơ); một bản gởi Tổ Thư ký tại Hội đồng chấm thi.
Thí sinh ko được tự ý sửa trong danh sách phòng thi; tất cả sơ sót ở danh sách và hồ sơ phải lập biên bản gửi về tổ Thư ký tại Hội đồng chấm thi.
Thực hiện việc phân công cán bộ coi thi, cán bộ giám sát phòng thi bằng phương thức bắt thăm và đổi chỗ ngồi của thí sinh qua mỗi buổi thi.
Xem xét: Việc thay cán bộ coi thi, cán bộ chấm thi (sau lúc đã có danh sách chính thức) phải có văn bản đề xuất thay thế cán bộ coi thi, cán bộ chấm thi của Hiệu trưởng trường phổ thông xác nhận; riêng việc thay đổi cán bộ coi thi, cán bộ chấm thi là thầy cô giáo thuộc trường trung học cơ sở phải có xác nhận của Phòng Giáo dục và Tập huấn. Tất cả việc đề xuất thay đổi phải được Sở Giáo dục và Tập huấn thông qua (ký duyệt) mới có trị giá chính thức tại các Điểm thi, Ban chấm thi.
Cán bộ giám sát phòng thi chịu trách nhiệm trước Trưởng Điểm thi; thực hiện các công việc sau:
Gisát hại việc thực hiện nhiệm vụ của CBCT, các thành viên khác tại khu vực được phân công.
Gisát hại thí sinh được CBCT cho phép ra ngoài phòng thi; kịp thời nhắc nhở CBCT, trật tự viên, công an, viên chức y tế và lập biên bản nếu các nhân vật trên vi phạm Quy chế thi.
Kiến nghị Trưởng Điểm thi đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ hoặc thay đổi CBCT, trật tự viên, công an, viên chức y tế nếu có vi phạm.
Yêu cầu CBCT lập biên bản thí sinh vi phạm Quy chế thi (nếu có); phối hợp với các đoàn thanh tra thi trong việc thanh tra, xử lý vi phạm.
4.6. Các đồ vật thí sinh được mang vào phòng thi
Chỉ được mang vào phòng thi bút viết, bút chì, compa, tẩy, thước kẻ, thước tính, máy tính bỏ túi ko có tính năng soạn thảo văn bản và ko có thẻ nhớ.
4.7. Xử lý đối với thí sinh tới muộn
Trường hợp thí sinh tới phòng thi muộn, nhưng chưa có hiệu lệnh tính giờ làm bài thì cán bộ coi thi lập biên bản và cho thí sinh dự thi; tất cả các trường hợp tới chậm quá 15 phút sau (thí sinh có mặt tại cổng điểm thi) lúc có hiệu lệnh tính giờ làm bài sẽ ko được dự thi.
4.8. Nhận diện thí sinh dự thi
Sau lúc phát đề thi xong, cả hai cán bộ coi thi dựa vào ảnh dán trong thẻ dự thi hoặc phiếu đăng ký dự thi để nhận diện thí sinh, có thể so với thẻ học trò hoặc chứng minh nhân dân.
5. Giao nhận đề thi
5.1. Sở Giáo dục và Tập huấn tổ chức giao đề thi tới Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện trước ngày thi 1 ngày.
5.2. Các quận, huyện chịu trách nhiệm bảo quản và tổ chức giao đề thi tới các Điểm thi. Mỗi sáng sớm giao các thùng đựng đề thi dùng cho ngày hôm đó, ko được để đề thi chưa sử dụng qua đêm tại Điểm thi. Ban Chỉ đạo quận, huyện cần báo cáo chủ trương này với Lãnh đạo Ủy ban nhân dân quận, huyện để được hỗ trợ đủ các phương tiện chuyển vận an toàn, kịp thời tới các Điểm thi, xem xét phải có Công an đi kèm lúc chuyển đề thi.
5.3. Đề thi của mỗi ngày được Phòng Giáo dục và Tập huấn giao trực tiếp cho Trưởng Điểm thi (hoặc Phó trưởng Điểm thi được Trưởng Điểm thi ủy quyền bằng văn bản) tại Điểm thi từ 6 giờ 00; xe chuyển đề thi phải vào trong khuôn viên Điểm thi, yêu cầu bảo vệ và công an có mặt tại Điểm thi trước 6 giờ 00, bàn giao đề thi phải được thực ngày nay phòng nơi đặt tủ bảo quản đề thi có sự chứng kiến của công an Điểm thi và lập thành biên bản giao nhận đề thi. Riêng đề thi môn chuyên do Sở Giáo dục và Tập huấn giao tới các Điểm thi có môn chuyên.
5.4. Trưởng Điểm thi mở túi đựng đề thi trước giờ thí sinh làm bài 20 phút (cắt mép dán đúng quy cách), ngay trước đó yêu cầu 2 cán bộ coi thi 1 rà soát kỹ sự nguyên vẹn của túi đựng đề thi còn niêm phong, đối chiếu kỹ tên bài thi in trên túi đựng đề thi với lịch thi, trình cho cả tập thể cán bộ coi thi 1 nhìn rõ (ko được rà soát làm phép) và lập biên bản theo mẫu. Sau lúc hai đại diện các cán bộ coi thi 1 ký xác nhận trên tất cả túi kể cả túi đựng đề thi dự phòng, Trưởng Điểm thi mới mở túi để lấy đề thi và đọc nhanh tên bài thi ghi trên đề thi để kịp thời xử lý ngay nếu bài thi ghi trên đề thi ko thích hợp với lịch thi (cho trở lại ngay vào túi) lập biên bản, niêm túi đựng đề thi đó và báo khẩn về Hội đồng thi tuyển sinh 10 thị thành để có ý kiến chỉ huy.
5.5. Mỗi Điểm thi sẵn sàng sẵn túi đựng đề thi cho các phòng thi (dùng túi đựng bài thi). Sau lúc mở túi đựng đề thi, Trưởng Điểm thi tổ chức kiểm đếm và đưa đúng số lượng đề thi vào túi riêng cho mỗi phòng thi rồi mới ủy quyền cán bộ coi thi 1.
– Cán bộ coi thi 1 kiểm đủ số lượng; chú ý so dò các bản với nhau.
– Cán bộ coi thi 1 ký vào tờ giao nhận đề thi giữa Trưởng Điểm thi và cán bộ coi thi 1 trước lúc rời văn phòng Điểm thi.
– Cán bộ coi thi 1 có nhiệm vụ bảo quản an toàn túi đựng đề thi để đưa về phòng thi. Đúng giờ quy định, có hiệu lệnh cán bộ coi thi 1 phát đề thi cho thí sinh theo thứ tự từ trái qua phải và từ trên xuống dưới; hướng dẫn thí sinh ghi họ, tên và số báo danh vào đề thi, giấy nháp trước lúc làm bài. Cả hai cán bộ coi thi rà soát và ký tên vào bài thi, giấy nháp của thí sinh. Chỉ cho phép thí sinh rời khỏi phòng thi lúc hế 2/3 thời kì làm bài.
– Các cán bộ coi thi ko đọc, ko chép, ko giữ và ko giải đề thi lúc làm nhiệm vụ coi thi.
– Mỗi phòng thi phải được trang bị 01 chiếc kéo dành cho CBCT để cắt túi đề thi. Trước lúc cắt túi đề thi và phát đề thi vào đúng thời khắc ghi trong Lịch thi, CBCT phải cho toàn thể thí sinh trong phòng thi chứng kiến tình trạng niêm phong của túi đề thi, sự thích hợp bà thi với lịch thi và lập biên bản xác nhận có chữ ký của 2 thí sinh trong phòng thi.
– Ngay sau lúc phát đề cho thí sinh, CBCT yêu cầu thí sinh rà soát tình trạng đề thi: nếu thấy đề thi bị thiếu trang hoặc rách, nhòe, mờ, phải tức khắc báo cho CBCT để kịp thời xử lý; nếu ko phát hiện hoặc để quá sau lúc phát đề 05 phút thì thí sinh phải tự chịu trách nhiệm. Tất cả những trường hợp phát sinh về đề thi, CBCT phải báo cáo cho Trưởng Điểm thi để báo cáo Trưởng ban Coi thi ngay sau lúc phát hiện (qua cán bộ giám sát thi).
5.6. Ngay sau lúc giao đề thi cho cán bộ coi thi 1 xong, Trưởng Điểm thi cho lập biên bản và niêm phong các đề thi thừa.
– Chậm nhất 15 phút sau thời khắc tính giờ làm bài, Thư ký hoặc người được Trưởng Điểm thi phân công phải hoàn thành việc tới các phòng thi lấy điểm danh và nhận số đề thi thừa (nếu có); cùng 2 cán bộ coi thi trong phòng thi lập biên bản giao nhận và niêm phong tại chỗ túi đựng đề thi thừa để chuyển cho Trưởng Điểm thi bảo quản.
– Phó trưởng Điểm thi phụ trách hạ tầng, kỹ thuật ko được tham gia vào các công việc liên quan trực tiếp tới đề thi.
5.7. Bảo quản và sử dụng đề thi dự trữ
– Số lượng đề thi phát tới từng Điểm thi bằng tổng số thí sinh đăng ký dự thi và tối đa 20 đề thi dự trữ, số liệu này có ghi rõ trên túi đựng đề thi.
– Việc sử dụng hay ko sử dụng đề thi dự trữ (trong một túi riêng) đều phải lập biên bản và trả túi này về cho Tổ Thư ký tại Ban chấm thi cùng với các túi đựng đề thi khác.
6. Thu bài thi, giao nhận bài thi, niêm gói và vận chuyển bài thi
6.1. Thu bài thi
– Trước lúc hết giờ làm bài 15 phút cán bộ coi thi nhắc thí sinh xem lại các yêu cầu cần ghi vào phần phách của giấy thi, chú ý rà soát lại những tờ giấy thi xin thêm để làm bài xem đã có đủ chữ ký của hai cán bộ coi thi ko.
– Khi có hiệu lệnh hết giờ làm bài, cán bộ coi thi yêu cầu thí sinh ngưng làm bài, đặt bút xuống bàn, ngồi tại chỗ, giữ trật tự; thí sinh nộp bài thi ko phải nộp đề thi và giấy trắng; cán bộ coi thi 1 gọi tên kèm theo số báo danh của từng thí sinh lên nộp bài, rà soát số tờ của mỗi bài thi, hướng dẫn thí sinh ghi và ký vào phiếu thu bài thi, có ghi rõ số tờ của mỗi bài thi, thu tuần tự cho tới thí sinh cuối cùng của phòng thi; trong lúc đó, cán bộ coi thi 2 quan sát và giữ trật tự phòng thi.
– Sau lúc thu xong bài thi, cả hai cán bộ coi thi rà soát lại số lượng bài thi đầy đủ mới cho thí sinh ra khỏi phòng thi và cùng rời phòng thi về văn phòng Điểm thi.
6.2. Giao nhận bài thi
– Khi bàn giao bài thi cho lãnh đạo Điểm thi phải có mặt cả hai cán bộ coi thi. Tập bài thi được xếp theo trật tự số báo danh từ nhỏ tới lớn của phòng thi (số báo danh nhỏ ở trên, số báo danh lớn ở dưới) và lồng vào nhau thành từng tập, mỗi tập 6 bài. Sau lúc thu bài thi xong, cả hai cán bộ coi thi cùng rà soát lại các cụ thể trong 4 trang của bìa bọc bài thi, thực hiện việc đánh số trật tự trong bài thi (ví dụ: lúc bài thi số trật tự 11 có 1 tờ thì chỉ ghi số 11; có 3 tờ thì ghi 11a, 11b, 11c; ko được ghi là 11A, 11B, 11C hoặc mẫu tự nào khác).
Trường hợp thí sinh vắng thi đưa thêm tờ giấy màu xanh: Giđó này thay cho bài làm tự luận của thí sinh vắng (điền số báo danh vắng) và vẫn đánh số trật tự trên giấy này, nhưng ngoài bìa bọc bài thi ghi tổng số bài thi, tổng số tờ giấy thi theo thực tiễn thí sinh có mặt dự thi.
– Việc giao nhận bài thi giữa hai cán bộ coi thi với Trưởng Điểm thi phải được thực hiện đầy đủ thủ tục, xác thực: người kiểm bài, nhận bài được Trưởng Điểm thi phân công phải đếm đủ số tờ của từng bài thi, đủ số bài thi của mỗi phòng, ghi đủ và đúng số liệu trên túi đựng bài thi trước lúc cho hai cán bộ coi thi ký vào biên bản giao nhận bài thi giữa cán bộ coi thi và Trưởng Điểm thi. Nếu số liệu ko thích hợp thì cho thẩm tra lại ngay, quy trách nhiệm rõ ràng. Cả hai cán bộ coi thi cùng chịu trách nhiệm về sự thất lạc bài thi (nếu có).
– Người kiểm bài, nhận bài của Điểm thi sau lúc rà soát đầy đủ các cụ thể (số bài, số tờ, số thí sinh,… chữ ký của hai cán bộ coi thi,…) ký nhận đã kiểm bài, đưa tất cả bài thi của phòng thi cùng 1 phiếu thu bài thi vào trong túi đựng bài thi (xem xét ghi đầy đủ các cụ thể bên ngoài túi này), dán kín tất cả mép túi trước mặt cả hai cán bộ coi thi; sau đó cả hai cán bộ coi thi cùng ký giáp lai vào tất cả mép dán và đóng dấu niêm phong túi đựng bài thi.
– Lãnh đạo Điểm thi phải giám sát kỹ việc thực hiện thứ tự kiểm bài tại văn phòng Điểm thi, nhắc nhở trách nhiệm của người kiểm bài, nhận bài thi.
6.3. Niêm gói các túi đựng bài thi
– Việc đóng gói và niêm phong các túi đựng bài thi của Điểm thi phải đảm kiểm soát an ninh toàn, bảo mật cao; có sự chứng kiến của cán bộ làm công việc coi thi tại Điểm thi; thực hiện ngay sau lúc thu bài thi xong và có đủ chữ ký của Trưởng, Phó trưởng, Thư ký Điểm thi trên nhãn niêm gói (thùng) đựng các túi bài thi đã được ghi đầy đủ các số liệu cần thiết, đóng dấu giáp lai. Mỗi loại bài thi phải được niêm gói riêng.
– Đối với bài thi Ngoại ngữ phải niêm gói riêng đối với từng loại Ngoại ngữ không giống nhau (nếu có) trong Điểm thi; đối với bài thi chuyên cũng niêm gói riêng cho từng môn chuyên không giống nhau.
6.4. Chuyển bài thi về Ban chấm thi
Ban Chỉ đạo kỳ thi quận, huyện tới nhận bài thi tại Điểm thi vào cuối mỗi ngày thi và chuyển về vị trí chấm thi. Yêu cầu lập biên bản bàn giao bài thi, xác thực về số liệu theo đúng như nhãn niêm thùng đựng bài thi. Riêng bài thi môn chuyên do Ban Vận chuyển bài thi của Hội đồng thi thị thành tới nhận tại Điểm thi có thi môn chuyên.
7. Báo cáo nhanh
– Sau 05 phút mở đầu tính giờ làm bài, Trưởng Điểm thi cử cán bộ lấy danh sách điểm danh và tổng hợp tình hình thí sinh sơ bộ báo cáo nhanh Hội đồng thi Thành phố (chậm nhất là 15 phút sau giờ tính giờ làm bài của thí sinh).
– Trong quá trình coi thi nếu có sự cố thất thường hoặc hành vi vi phạm Quy chế thi phải báo cáo ngay về Ban Coi thi theo số điện thoại: 028.38226796; 028.38234109; 028.38232625.
8. Phúc khảo bài thi
– Mọi thí sinh đều có quyền xin phúc khảo bài thi. Thí sinh nộp đơn xin phúc khảo bài thi tại nơi nộp đơn dự thi trong vòng 03 (ba) ngày sau lúc thông báo kết quả điểm bài thi.
– Thí sinh xin phúc khảo phải nộp Phiếu đăng ký phúc khảo bài thi (theo mẫu) gửi tới trường phổ thông nơi nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển.
– Sau lúc lập danh sách thí sinh đăng ký phúc khảo (theo mẫu), các trường phổ thông gửi toàn thể hồ sơ phúc khảo về Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện. Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện tập trung danh sách gửi về Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục.
– Điểm các bài thi sau phúc khảo là điểm chính thức của thí sinh và được cập nhật lên hệ thống.
– Thí sinh được nhận phiếu điểm mới (lúc có thay đổi điểm số) tại trường đăng ký dự ký dự tuyển.
9. Điện thoại liên hệ trong công việc thi
Thường trực Hội đồng thi tuyển sinh 10 Thành phố: 028.38226796; 028.38234109; 028.38232625.
VIII. TỔ CHỨC NHẬP HỌC
1.Tổ chức tiếp thu hồ sơ nhập học:
– Hiệu trưởng trường phổ thông sắp đặt nơi tiếp học trò tới làm hồ sơ đăng ký nhập học tại trường mình thật lịch sự và thuận tiện; phân công cán bộ, thầy cô giáo, viên chức đã được hướng dẫn nắm vững nghiệp vụ, có thái độ giao tiếp, xử sự văn hóa làm công việc hướng dẫn trả lời thắc mắc và thu nhận hồ sơ của học trò.
2. Hồ sơ nhập học:
– Phiếu đăng ký xét tốt nghiệp trung học cơ sở năm 2020 và thi tuyển vào lớp 10 trung học phổ thông năm học 2020-2021 có ghi 3 ước vọng ưu tiên xét vào các trường trung học phổ thông;
– Phiếu báo điểm tuyển sinh 10 trên đó có ghi 3 ước vọng;
– Học bạ cấp trung học cơ sở (bản chính);
– Bằng tốt nghiệp trung học cơ sở (bản chính). Học trò mới xác nhận tốt nghiệp nộp giấy chứng thực tốt nghiệp (tạm thời) do các cơ sở giáo dục cấp và nộp bản chính văn bằng vào hồ sơ lúc được Phòng Giáo dục và Tập huấn cấp phát bằng;
– Bản sao giấy khai sinh hợp thức;
– Giđó xác nhận thừa hưởng chính sách ưu tiên (nếu có) do cơ quan có thẩm quyền cấp;
3. Việc thay đổi ước vọng:
Tuyệt đối ko đổi ước vọng sau lúc thông báo kết quả tuyển sinh (cụ thể là hình thức chuyển trường sau lúc trúng tuyển).
Sở Giáo dục và Tập huấn cũng như các trường trung học phổ thông đều ko nhận đơn cũng như ko khắc phục việc xin đổi ước vọng. Các trường trung học phổ thông chỉ nhận hồ sơ thí sinh có trong sách trúng tuyển vào lớp 10 của đơn vị mình.
4. Lập danh sách tuyển sinh vào lớp 10
4.1. Chương trình cập nhật danh sách học trò trúng tuyển sinh 10
– Trường trung học phổ thông thực hiện chương trình cập nhật danh sách học trò tuyển sinh 10 thống nhất toàn thị thành. Khi học trò nộp hồ sơ, trường ghi lại vào ô nộp hồ sơ trong chương trình trước lúc in danh sách nộp về Sở Giáo dục và Tập huấn.
4.2. In danh sách trúng tuyển
– Trường trung học phổ thông in 2 bản và đóng bìa, lúc in trường trung học phổ thông nhập các thông tin sau vào chương trình:
+ Năm học: 2020 – 2021
+ Họ tên Người lập bảng: Nhập Họ tên Người lập bảng.
+ Họ tên Hiệu trưởng: Nhập Họ tên Hiệu trưởng.
+ Họ tên Phó Giám đốc: Nguyễn Văn Hiếu.
– Danh sách được in khổ ngang giấy A4 (Top = 2,5cm; Bottom = 2,5cm; Left = 3cm; Right = 2,5cm). Đóng bìa theo lề trái.
– Nội dung trang bìa theo mẫu có trong chương trình với đầy đủ thông tin.
IX. KẾ HOẠCH THỜI GIAN

THỜI GIAN
NỘI DUNG CÔNG VIỆC
ĐƠN VỊ, CÁ NHÂNTHỰC HIỆN

22.5.2020
– Triển khai xét tốt nghiệp trung học cơ sở và tuyển sinh vào lớp 10; rộng rãi chương trình xét tốt nghiệp trung học cơ sở và chương trình nhập dữ liệu tuyển sinh vào lớp 10 tại hội trường Sở Giáo dục và Tập huấn (Đã tập huấn)
Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục

Từ 20.5.2020 tới 27.5.2020
– Tổ chức cho phụ huynh học trò và học trò tìm hiểu về xét tốt nghiệp trung học cơ sở và tuyển sinh vào lớp 10 và học trò làm Phiếu đăng ký nộp tại nơi đang học.
Trường phổ thông

02.6.2020
– Các đơn vị cơ sở hoàn thành nhập dữ liệu xét tốt nghiệp trung học cơ sở và nhập dữ liệu tuyển sinh vào lớp 10.
Trường phổ thông

02.6.2020
– Sở Giáo dục và Tập huấn gửi nhu cầu số thầy cô giáo làm cán bộ coi thi về các cơ sở giáo dục
Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục

Từ 02.6.2020 tới 04.6.2020
– Phòng Giáo dục và Tập huấn rà soát việc nhập liệu của các cơ sở (kể cả việc nhập liệu cho các nhân vật tuyển thẳng) và khóa dữ liệu (sẽ ko thêm hoặc loại trừ lúc đã khóa dữ liệu)
Phòng Giáo dục và Tập huấn

04.6.2020 (16 giờ 00)
– Phòng Giáo dục và Tập huấn hoàn thành rà soát và chuyển dữ liệu về Sở.
Phòng Giáo dục và Tập huấn

05.6.2020

– Các trường trung học phổ thông nộp danh sách đề xuất Hội đồng tuyển sinh về Phòng Tổ chức Cán bộ
– Nộp danh sách (theo mẫu) Ban Lãnh đạo Điểm thi, Cán bộ coi thi, cán bộ chấm thi, viên chức phục vụ tại chỗ (đối với các đơn vị được chọn làm điểm thi) về Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
– Phòng Giáo dục và Tập huấn chuyển dữ liệu tuyển sinh, nộp hồ sơ tuyển thẳng vào lớp 10 về Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục.
Trường phổ thông Phòng Giáo dục và Tập huấn Phòng Giáo dục và Tập huấn

05.6.2020
– Sở Giáo dục và Tập huấn rộng rãi số liệu tổng hợp thuở đầu về số học trò đăng ký dự thi vào từng trường (đăng ký ước vọng 1)
Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục

Từ 05.6.2020 tới 12.6.2020

– Phụ huynh học trò và học trò có thể điều chỉnh ước vọng
– Phòng Giáo dục và Tập huấn mở khóa phần điều chỉnh ước vọng cho các đơn vị điều chỉnh

Trường phổ thông Phòng Giáo dục và Tập huấn

15.6.2020
– Gửi danh sách cán bộ, thầy cô giáo, viên chức tham gia Hội đồng thi tuyển sinh 10 Thành phố
Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục

Trước 16 giờ 00 ngày 12.6.2020

– Hết hạn nhận phiếu đăng ký thi tuyển vào lớp 10 (chỉ nhận điều chỉnh ước vọng, ko thêm hoặc loại trừ thí sinh ra khỏi danh sách) và hoàn thành nhập dữ liệu điều chỉnh ước vọng tại Phòng Giáo dục và Tập huấn.
– Phòng Giáo dục và Tập huấn khóa dữ liệu và chuyển dữ liệu hoàn chỉnh về cho Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục.

Trường phổ thông
Phòng Giáo dục và Tập huấn

18.6.2020
– Niêm phong các phiếu đăng ký thi tuyển vào lớp 10
Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện

03.7.2020
– Phòng Giáo dục và Tập huấn nhận dữ liệu đã có số báo danh và phòng thi từ Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục

Từ 03.7 tới 06.7.2020
– Phòng Giáo dục và Tập huấn in danh sách dự thi, phiếu thu bài và triển khai phát phiếu báo danh cho thí sinh
Phòng Giáo dục và Tập huấn

07.7.2020
– Phát phiếu báo danh cho thí sinh
Trường phổ thông

07.7.2020 (8 giờ 00)
– Hướng dẫn công việc coi thi và bàn giao Ban Lãnh đạo Điểm thi cho Ban Chỉ đạo quận, huyện tại Sở Giáo dục và Tập huấn (HT2.1)
Hội đồng thi tuyển sinh 10 Thành phố, thi, Ban Chỉ đạo quận, huyện

08.7.2020 (8 giờ 00)
– Ban Lãnh đạo Điểm thi họp với Ban Chỉ đạo quận, huyện
Ban Chỉ đạo quận, huyện và Ban lãnh đạo các Điểm thi đóng trên khu vực quận, huyện

14.7.2020
(7 giờ 30)

– Ban Lãnh đạo Điểm thi họp bàn công việc của Điểm thi, rà soát hồ sơ,…
– Hội đồng thi tuyển sinh 10 Thành phố nắm tình hình sẵn sàng kỳ thi của các quận, huyện

Ban coi thi Hội đồng thi tuyển sinh 10 Thành phố

15.7.2020
(7 giờ 30)
9 giờ 30

– Họp toàn thể Điểm thi để sẵn sàng công việc coi thi, rà soát hồ sơ thi,…
– Giao đề thi cho các Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện
– Tiếp nhận thí sinh theo quy chế thi và rà soát thông tin thí sinh.

Toàn thể cán bộ coi thi của Điểm thi
Hội đồng thi tuyển sinh 10 Thành phố
Toàn thể cán bộ coi thi của Điểm thi

16,17.7.2020

– Tổ chức thi theo lịch quy định (cuối mỗi ngày thi, nộp bài về hội đồng chấm thi)
– Giao nhận bài thi (vào cuối mỗi ngày thi)

Ban coi thi, Tổ Thư ký

17.7.2020 (13 giờ 30)
– Làm phách bài thi, kiểm bài (Mã 1)
Tổ thư ký, Tổ làm phách

18.7.2020
(7 giờ 30)

– Làm phách bài thi (Mã 1, Mã 2)
– Chuẩn bị thiết bị tổ lên điểm bài thi tự luận

Tổ thư ký, Tổ làm phách, Tổ lên điểm bài thi tự luận

19.7.2020
(9 giờ 30)

– Thảo luận đáp án, hướng dẫn nghiệp vụ chấm tự luận.
– Tiếp nhận dữ liệu lúc đã điều chỉnh các sơ sót từ Phòng Giáo dục và Tập huấn.

Tổ trưởng, tổ phó chấm Tổ thư ký

19.7.2020 (13 giờ 30)
– Mở màn chấm thi chính thức.
Ban chấm thi

Từ 24.7.2020 tới 26.7.2020 (dự kiến)
– Đối sánh kết quả bài thi với kết quả trên máy tính. Ghép điểm thi.
Ban chấm thi, Tổ thư ký và Tổ làm phách

27.7.2020 (dự kiến)

– Gửi kết quả thi về Phòng giáo dục và tập huấn các quận, huyện.
– Thông báo kết quả thi.

Ban chấm thi Trường phổ thông

28.7.2020 (dự kiến)
– In giấy báo điểm tuyển sinh 10
Trường phổ thông

Từ 27.7.2020 tới 29.7.2020
– Nhận đơn xin phúc khảo bài thi
Trường phổ thông

29.7.2020 (Dự kiến)
– Thông báo kết quả điểm số và điểm chuẩn tuyển sinh trung học phổ thông chuyên, tích hợp và diện tuyển thẳng.
Sở Giáo dục và Tập huấn

Từ 29.7.2020 tới 16 giờ 00 ngày 01.8.2020
– Thí sinh trúng tuyển trung học phổ thông chuyên, tích hợp và diện tuyển thẳng nộp hồ sơ nhập học tại trường đã trúng tuyển. Sau 16 giờ 00 ngày 01 tháng 8 năm 2020, thí sinh ko nộp hồ sơ nhập học thì trường sẽ xóa tên trong danh sách trúng tuyển.
Các cơ sở giáo dục

03.8.2020
– Các trường nộp danh sách và cập nhật vào hệ thống danh sách học trò đã đăng ký học về Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục.
Các cơ sở giáo dục

30.7.2020
– Chuyển dữ liệu phúc khảo cho Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
Phòng Giáo dục và Tập huấn quận, huyện

01.8.2020 (dự kiến)
– Sở Giáo dục và Tập huấn chuyển dữ liệu phúc khảo cho Hội đồng thi
Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục

02.8.2020
– Tổ chức chấm phúc khảo
Tổ phúc khảo

03.8.2020 (7 giờ 30)

– Cán bộ chấm phúc khảo có mặt tại vị trí chấm thi, mở đầu chấm phúc khảo
Tổ phúc khảo

04.8.2020 (dự kiến)
– Thông báo kết quả chấm phúc khảo (tạm thời)
Hội đồng thi tuyển sinh Thành phố

05.8.2020
(dự kiến)

– In giấy báo điểm tuyển sinh 10 cho các thí sinh có đăng ký phúc khảo và thu hồi phiếu điểm đã cấp trước đây.
Trường phổ thông

21.8.2020
– Họp Ban Chỉ đạo quận, huyện và Hiệu trưởng trường trung học phổ thông để thống nhất điểm chuẩn tuyển sinh 10. Tại hội trường 2.1- Sở Giáo dục và Tập huấn
Hội đồng thi tuyển sinh Thành phố

21.8.2020

– Thông báo điểm chuẩn tuyển sinh 10 và danh sách thí sinh trúng tuyển vào lớp 10.

Các trường trung học phổ thông có tuyển sinh 10

Từ 21.8.2020 tới 16 giờ 00 ngày 29.8.2020
– Thí sinh trúng tuyển trung học phổ thông nộp hồ sơ nhập học tại trường đã trúng tuyển. Sau 16 giờ 00 ngày 29 tháng 8 năm 2020, thí sinh ko nộp hồ sơ nhập học thì trường sẽ xóa tên trong danh sách trúng tuyển.
Các trường trung học phổ thông có tuyển sinh 10

31.8.2020
– Hội đồng tuyển sinh của trường họp để sơ kết việc tiếp thu học trò vào học và gửi báo cáo về Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục.
Các trường trung học phổ thông có tuyển sinh 10

03.9.2020
– Tiếp nhận danh sách học trò đăng ký nhập học của các trường trung học phổ thông có tuyển sinh 10 thuộc: Quận 1, Quận 2, Quận 3, Quận 4, Quận 5, Quận 6, Quận 7, Quận 8, Quận 9, Quận 10, Quận 11, Quận 12.
Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục

04.9.2020
– Tiếp nhận danh sách học trò đăng ký nhập học của các trường trung học phổ thông có tuyển sinh 10 thuộc: Bình Thạnh, Phú Nhuận, Nhà Bè, Tân Bình, Tân Phú, Gò Vấp, Thủ Đức, Bình Tân, Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Cần Giờ.
Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục

Nơi nhận:– Như trên;– Ban Giám đốc Sở GD&ĐT;– Các Phòng, ban Sở GD&ĐT;– Lưu: VP, KTKĐCLGD.

KT. GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐCNguyễn Văn Hiếu

[rule_2_plain]

#Công #văn #1402GDĐTKTKĐCLGD


Back to top button