Giáo Dục

Cảm nhận 2 khổ thơ cuối bài thơ Ánh trăng

Bài văn mẫu Cảm nhận 2 khổ thÆ¡ cuối bài thÆ¡ Ánh trăng dưới đây nhằm giúp các em cảm nhận được ý nghÄ©a của hình ảnh tượng trÆ°ng trăng trong thÆ¡ của Nguyễn Duy. Bên cạnh đó, bài văn mẫu này còn giúp các em trau dồi thêm vốn từ phong phú cho bản thân. Mời các em cùng tham khảo nhé! Ngoài ra, để làm phong phú thêm kiến thức cho bản thân, các em có thể tham khảo thêm bài giảng Ãnh trăng.

1. Sơ đồ tóm tắt gợi ý

2. Dàn bài chi tiết

a. Mở bài:

– Giới thiệu nhà thÆ¡ Nguyễn Duy, nhà thÆ¡ quân đội, đã được giải nhất cuộc thi thÆ¡ của báo Văn Nghệ 1972 – 1973, một gÆ°Æ¡ng mặt tiêu biểu cho lớp nhà thÆ¡ trẻ thời chống MÄ© cứu nước.

– Tập thÆ¡ “Ánh trăng” của ông được tặng giải A của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1984. Trong đó, có bài thÆ¡ mà tá»±a đề dùng làm nhan đề cho cả tập thÆ¡ : Ánh Trăng. Bài thÆ¡ là một câu chuyện riêng nhÆ°ng có ý nghÄ©a triết lý nhÆ° một lời tá»± nhắc nhở thấm thía của nhà thÆ¡ về lối sống nghÄ©a tình, thủy chung với quá khứ gian lao, với thiên nhiên, đất nước và đồng đội.

– Hai khổ thÆ¡ cuối bài thÆ¡ cho ta thấy sá»± thức tỉnh của con người và nhắc nhở đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

b. Thân bài:

* Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng

– Từ “mặt” được dùng với nghÄ©a gốc và nghÄ©a chuyển – mặt trăng, mặt người – trăng và người cùng đối diện đàm tâm.

– Với tÆ° thế “ngá»­a mặt lên nhìn mặt” người đọc cảm nhận sá»± lặng im, thành kính và trong phút chốc cảm xúc dâng trào lúc gặp lại vầng trăng: “có cái gì rÆ°ng rÆ°ng”. RÆ°ng rÆ°ng của những niềm thÆ°Æ¡ng nỗi nhớ, của những lãng quên lạnh nhạt với người bạn cố tri; của một lÆ°Æ¡ng tri đang thức tỉnh sau những ngày đắm chìm trong cõi u mê mộng mị; rÆ°ng rÆ°ng của nỗi ân hận ăn năn về thái độ của chính mình trong suốt thời gian qua. Một chút áy náy, một chút tiếc nuối, một chút xót xa đau lòng, tất cả đã làm nên cái “rÆ°ng rÆ°ng”,cái thổn thức trong sâu thẳm trái tim người lính.

– Và trong phút giây nhân vật trữ tình nhìn thẳng vào trăng- biểu tượng đẹp đẽ của một thời xa vắng, nhìn thẳng vào tâm hồn của mình, bao kỉ niệm chợt ùa về chiếm trọn tâm tÆ°. Kí ức về quãng đời ấu thÆ¡ trong sáng, về lúc chiến tranh máu lá»­a, về cái ngày xÆ°a hồn hậu hiện lên rõ dần theo dòng cảm nhận trào dâng “nhÆ° là đồng là bể, nhÆ° là sông là rừng”. Đồng, bể, sông, rừng, những hình ảnh gắn bó nÆ¡i khoảng trời kỉ niệm.

-> Cấu trúc song hành của hai câu thơ, nhịp điệu dồn dập cùng biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ và liệt kê như muốn khắc họa rõ hơn kí ức về thời gian gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng lớn lao sâu nặng, nghĩa tình, tri kỉ. Chính thứ ánh sáng dung dị đôn hậu đó của trăng đã chiếu tỏ nhiều kỉ niệm thân thương, đánh thức bao tâm tình vốn tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính. Chất thơ mộc mạc chân thành như vầng trăng hiền hòa, ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm như “có cái gì rưng rưng”,đoạn thơ đã đánh động tình cảm nơi người đọc.

– Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh” là tượng trÆ°ng cho quá khứ nghÄ©a tình, thủy chung, đầy đặn, bao dung, nhân hậu.

– Hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” mang ý nghÄ©a nghiêm khắc nhắc nhở, là sá»± trách móc trong lặng im. Chính cái im phăng phắc của vầng trăng đã đánh thức con người, làm xáo động tâm hồn người lính năm xÆ°a. Con người “giật mình” trước ánh trăng là sá»± bừng tỉnh của nhân cách, là sá»± trở về với lÆ°Æ¡ng tâm trong sạch, tốt đẹp. Đó là lời ân hận, ăn năn day dứt, làm đẹp con người.

* Đặc sắc nội dung và nghệ thuật:

– Nội dung:

  • Hai khổ cuối bài thÆ¡ cho ta thấy sá»± thức tỉnh của con người.
  • Lời nhắn gá»­i con người không được lãng quên quá khứ gian khổ mà sâu đậm nghÄ©a tình.
  • Lời nhắc nhở về nghÄ©a tình thiêng liêng của nhân dân, đất nước và đạo lí uống nước nhớ nguồn.

– Nghệ thuật:

  • Thể thÆ¡ ngÅ© ngôn với nhiều sáng tạo độc đáo.
  • Sá»± kết hợp hài hòa giữa chất tá»± sá»± và trữ tình.
  • Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, gần gÅ©i mà giàu sức gợi.
  • Giọng điệu tâm tình thấm thía, lúc thì thiết tha cảm xúc, lúc lại trầm lắng, suy tÆ°.

c. Kết bài:

– Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thÆ¡.

3. Bài văn mẫu

Đề bài: Em hãy viết bài văn nêu cảm nhận của em về 2 khổ thơ cuối bài thơ Ánh trăng.

GỢI Ý LÀM BÀI

3.1. Bài văn mẫu số 1

Bao trùm cả bài thÆ¡ “Ánh trăng” của nhà thÆ¡ Nguyễn Duy là một nỗi day dứt, ăn năn cứ kéo dài triền miên khôn nguôi. Ở ngay cái tên bài thÆ¡ cÅ©ng đủ để ta thấy được chủ đề của cả bài thÆ¡. Bởi lẽ, khác với “vầng trăng” là hình ảnh cụ thể thì “ánh trăng” là những tia sáng. Tia sáng ấy đã soi rọi vào góc tối của con người, đánh thức lÆ°Æ¡ng tâm của con người, làm sáng bừng lên cả một quá khứ đầy ắp những kỉ niệm đẹp đẽ, thân thÆ°Æ¡ng.

Khổ thơ thứ năm là hình tượng vầng trăng và cảm xúc, suy ngẫm của nhà thơ. Còn đến khổ thơ thứ sáu là những suy ngẫm và triết lí nhân sinh của nhà thơ qua hình tượng trăng:

Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rung

như là đồng là bể

như là sông là rừng

Từ “mặt” trong khổ thÆ¡ được dùng với nghÄ©a gốc và nghÄ©a chuyển – mặt trăng, mặt người – trăng và người cùng đối diện đàm tâm. Với tÆ° thế “ngá»­a mặt lên nhìn mặt” người đọc cảm nhận sá»± lặng im, thành kính và trong phút chốc cảm xúc dâng trào lúc gặp lại vầng trăng: “có cái gì rÆ°ng rÆ°ng”. RÆ°ng rÆ°ng của những niềm thÆ°Æ¡ng nỗi nhớ, của những lãng quên lạnh nhạt với người bạn cố tri; của một lÆ°Æ¡ng tri đang thức tỉnh sau những ngày đắm chìm trong cõi u mê mộng mị; rÆ°ng rÆ°ng của nỗi ân hận ăn năn về thái độ của chính mình trong suốt thời gian qua. Một chút áy náy, một chút tiếc nuối, một chút xót xa đau lòng, tất cả đã làm nên cái “rÆ°ng rÆ°ng”, cái thổn thức trong sâu thẳm trái tim người lính.

Và trong phút giây nhân vật trữ tình nhìn thẳng vào trăng – biểu tượng đẹp đẽ của một thời xa vắng, nhìn thẳng vào tâm hồn của mình, bao kỉ niệm chợt ùa về chiếm trọn tâm tÆ°. Kí ức về quãng đời ấu thÆ¡ trong sáng, về lúc chiến tranh máu lá»­a, về cái ngày xÆ°a hồn hậu hiện lên rõ dần theo dòng cảm nhận trào dâng, “nhÆ° là đồng là bể, nhÆ° là sông là rừng”. Đồng, bể, sông, rừng, những hình ảnh gắn bó nÆ¡i khoảng trời kỉ niệm.

Cấu trúc song hành của hai câu thơ, nhịp điệu dồn dập cùng biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ và liệt kê như muốn khắc họa rõ hơn kí ức về thời gian gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng lớn lao sâu nặng, nghĩa tình, tri kỉ. Chính thứ ánh sáng dung dị đôn hậu đó của trăng đã chiếu tỏ nhiều kỉ niệm thân thương, đánh thức bao tâm tình vốn tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính. Chất thơ mộc mạc chân thành như vầng trăng hiền hòa, ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm như “có cái gì rưng rưng”,đoạn thơ đã đánh động tình cảm nơi người đọc.

Rưng rưng là biểu hiện xúc động, nước mắt đang ứa ra, sắp khóc. Giọt nước mắt làm cho lòng người thanh thản lại, trong sáng lại. Bao kỉ niệm đẹp ùa về, tâm hồn gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng xưa, với đồng với bể,với sông với rừng. Cấu trúc câu thơ song hành với các biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ cho thấy ngòi bút Nguyễn Duy thật tài hoa. Đoạn thơ hay ở chất thơ bộc bạch chân thành, ở tính biểu cảm, ngôn từ và hình ảnh thơ đi vào lòng người, khắc sâu một cách nhẹ nhàng mà thấm thía những gì nhà thơ muốn tâm sự với chúng ta. Khổ thơ cuối mang hàm ý độc đáo và sâu sắc:

Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình.

Tròn vành vạnh là trăng rằm, một vẻ đẹp viên mãn. Trăng vẫn thuá»· chung mặc cho người nào thay đổi, vô tình với trăng. Ánh trăng im phăng phắc, không một lời trách cứ. Trăng bao dung và độ lượng biết bao. Tấm lòng bao dung độ lượng ấy khiến cho ta phải giật mình. Sá»± giật mình để tá»± lột xác, để trở về. Trở về với chính mình tốt đẹp xÆ°a kia. Đó là cái giật mình để tá»± hoàn thiện.

Tóm lại, với giọng thơ trầm tĩnh, sâu lắng, đoạn thơ trên đã gây nhiều xúc động cho người đọc. Nó như là lời tâm sự, lời tự thú, lời tự nhắc chân thành. Qua đoạn thơ, tác giả muốn nói rằng: phải thuỷ chung, trọn vẹn, phải nghĩa tình sắt son với nhân dân, với đất nước, và ngay với chính bản thân mình.

3.2. Bài văn mẫu số 2

Trăng là một đề tài quen thuộc trong thơ ca. Trăng như một biểu tượng thơ mộng gắn với tâm hồn thi sĩ. Nhưng có một nhà thơ cũng viết về trăng, không chỉ tìm thấy ở đấy cái thơ mộng, mà còn gửi gắm những nỗi niềm tâm sự mang tính hàm nghĩa độc đáo. Đó là trường hợp bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy.

Vầng trăng đã từng gắn bó với tuổi thơ, với cuộc đời người lính, đã trở thành người bạn tri kỉ, ngỡ không bao giờ quên. nhưng hoàn cảnh sống đổi thay, con người cũng thay đổi, có lúc cũng trở nên vô tình. Sau chiến thắng trở về thành phố, quen ánh điện cửa gương, khiến cho vầng trăng tình nghĩa vô tình bị lãng quên. nhưng một tình huống đời thường xảy ra làm cho con người phải giật mình tỉnh ngộ, phải đối mặt với vầng trăng mà sám hối:

Ngửa mặt lên nhìn mặt

Có cái gì rưng rung

Như là đồng là bể

Như là sông là rừng.

Nguyễn Duy đưa người đọc cùng đắm chìm tong suy tÆ°, trong chiêm nghiệm về “vầng trăng tình nghÄ©a” một thời:

Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình

Bài thÆ¡ dừng ở cảm xúc “rÆ°ng rÆ°ng” cÅ©ng đã rõ chủ đề. NhÆ°ng thêm một đoạn cuối, ý tưởng bài thÆ¡ được đẩy cao thêm, rõ hÆ¡n và mạnh hÆ¡n trong sá»± bình luận về một thái độ sống. Hình ảnh “vầng trăng” còn được nhà thÆ¡ nhìn lại “tròn vành vạnh” thật là đẹp, một cái đẹp viên mãn không hề bị khiếm khuyết dù người nào kia thay đổi, vô tình. Ánh trăng sáng tròn đầy hay chính là cái đẹp của tình nghÄ©a thủy chung, nhân hậu? Ánh trăng vừa nghiêm khắc, lạnh lùng, vừa bao dung độ lượng: “kể chi người vô tình”. Chính ánh trăng vô ngôn, không một lời trách cứ ấy đã khiến cho “người vô tình” thấy rõ cái khiếm khuyết của bản thân mà không khỏi “giật mình“ tỉnh ngộ. Thật khó diễn tả cho hết tâm trạng của con người lúc ấy, biết bao ý nghÄ©a hàm ẩn trong hai chữ “giật mình”. Cái “giật mình” chân thành thay cho một lời sám hối ăn năn. Dù lời sám hối ấy không được cất lên nhÆ°ng chính vì thế nó lại làm cho ý thÆ¡ trở nên ám ảnh, day dứt hÆ¡n. Cả bài thÆ¡ là vô nhân xÆ°ng, đến đây tác giả mới xÆ°ng “ta” để nhận lỗi, để tạ tội. Một cái giật mình tái mặt lúc nhận ra chân tướng của chính mình. Đằng sau cái giật mình ấy người đọc cảm nhận được niềm ân hận day dứt của một con người đã nghiêm khắc nhìn thẳng vào mình để nhận ra cái sai của mình. Người xÆ°a hay nói “trong cái rủi có cái may”. Một sá»± cố rất bình thường của nền văn minh hiện đại đã thức tỉnh con người trở về với những giá trị cao đẹp, vÄ©nh hằng. Đó chính là cái hay và độc đáo của bài thÆ¡ có sức cảm hóa lòng người.

Đọc bài thÆ¡ người đọc đều cảm nhận thấy đây không chỉ là câu chuyện riêng của nhà thÆ¡ mà cÅ©ng là chuyện của mình. Từ câu chuyện ấy gợi ra cho người đọc sá»± suy ngẫm và liên tưởng tới cách sống của chính mình . Nhà thÆ¡ tâm sá»± với bạn đọc những điều sâu kín nÆ¡i lòng mình nhÆ°ng cÅ©ng là để gá»­i tới người đọc một bức thông điệp về cách sống đẹp trong hoàn cảnh đất nước hòa bình. Qua tâm sá»± sâu kín của Nguyễn Duy ở bài thÆ¡ “Ánh trăng”, chúng ta nhÆ° được thanh lọc lại tâm hồn mình, nhÆ° lay động miền ký ức mà có lúc vô tình chúng ta đã lãng quên. Mong sao những người nào từng ở với sông, với biển, với đồng, với rừng… trong những năm tháng gian lao ấy luôn luôn có được tình cảm này.

—–Mod Ngữ văn biên soạn và tổng hợp—–

.


Thông tin thêm

Cảm nhận 2 khổ thơ cuối bài thơ Ánh trăng

[rule_3_plain]

Bài văn mẫu Cảm nhận 2 khổ thÆ¡ cuối bài thÆ¡ Ánh trăng dưới đây nhằm giúp các em cảm nhận được ý nghÄ©a của hình ảnh tượng trÆ°ng trăng trong thÆ¡ của Nguyễn Duy. Bên cạnh đó, bài văn mẫu này còn giúp các em trau dồi thêm vốn từ phong phú cho bản thân. Mời các em cùng tham khảo nhé! Ngoài ra, để làm phong phú thêm kiến thức cho bản thân, các em có thể tham khảo thêm bài giảng Ãnh trăng.

1. Sơ đồ tóm tắt gợi ý

2. Dàn bài chi tiết

a. Mở bài:

– Giới thiệu nhà thÆ¡ Nguyễn Duy, nhà thÆ¡ quân đội, đã được giải nhất cuộc thi thÆ¡ của báo Văn Nghệ 1972 – 1973, một gÆ°Æ¡ng mặt tiêu biểu cho lớp nhà thÆ¡ trẻ thời chống MÄ© cứu nước.

– Tập thÆ¡ “Ánh trăng” của ông được tặng giải A của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1984. Trong đó, có bài thÆ¡ mà tá»±a đề dùng làm nhan đề cho cả tập thÆ¡ : Ánh Trăng. Bài thÆ¡ là một câu chuyện riêng nhÆ°ng có ý nghÄ©a triết lý nhÆ° một lời tá»± nhắc nhở thấm thía của nhà thÆ¡ về lối sống nghÄ©a tình, thủy chung với quá khứ gian lao, với thiên nhiên, đất nước và đồng đội.

– Hai khổ thÆ¡ cuối bài thÆ¡ cho ta thấy sá»± thức tỉnh của con người và nhắc nhở đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

b. Thân bài:

* Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng

– Từ “mặt” được dùng với nghÄ©a gốc và nghÄ©a chuyển – mặt trăng, mặt người – trăng và người cùng đối diện đàm tâm.

– Với tÆ° thế “ngá»­a mặt lên nhìn mặt” người đọc cảm nhận sá»± lặng im, thành kính và trong phút chốc cảm xúc dâng trào lúc gặp lại vầng trăng: “có cái gì rÆ°ng rÆ°ng”. RÆ°ng rÆ°ng của những niềm thÆ°Æ¡ng nỗi nhớ, của những lãng quên lạnh nhạt với người bạn cố tri; của một lÆ°Æ¡ng tri đang thức tỉnh sau những ngày đắm chìm trong cõi u mê mộng mị; rÆ°ng rÆ°ng của nỗi ân hận ăn năn về thái độ của chính mình trong suốt thời gian qua. Một chút áy náy, một chút tiếc nuối, một chút xót xa đau lòng, tất cả đã làm nên cái “rÆ°ng rÆ°ng”,cái thổn thức trong sâu thẳm trái tim người lính.

– Và trong phút giây nhân vật trữ tình nhìn thẳng vào trăng- biểu tượng đẹp đẽ của một thời xa vắng, nhìn thẳng vào tâm hồn của mình, bao kỉ niệm chợt ùa về chiếm trọn tâm tÆ°. Kí ức về quãng đời ấu thÆ¡ trong sáng, về lúc chiến tranh máu lá»­a, về cái ngày xÆ°a hồn hậu hiện lên rõ dần theo dòng cảm nhận trào dâng “nhÆ° là đồng là bể, nhÆ° là sông là rừng”. Đồng, bể, sông, rừng, những hình ảnh gắn bó nÆ¡i khoảng trời kỉ niệm.

-> Cấu trúc song hành của hai câu thơ, nhịp điệu dồn dập cùng biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ và liệt kê như muốn khắc họa rõ hơn kí ức về thời gian gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng lớn lao sâu nặng, nghĩa tình, tri kỉ. Chính thứ ánh sáng dung dị đôn hậu đó của trăng đã chiếu tỏ nhiều kỉ niệm thân thương, đánh thức bao tâm tình vốn tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính. Chất thơ mộc mạc chân thành như vầng trăng hiền hòa, ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm như “có cái gì rưng rưng”,đoạn thơ đã đánh động tình cảm nơi người đọc.

– Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh” là tượng trÆ°ng cho quá khứ nghÄ©a tình, thủy chung, đầy đặn, bao dung, nhân hậu.

– Hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” mang ý nghÄ©a nghiêm khắc nhắc nhở, là sá»± trách móc trong lặng im. Chính cái im phăng phắc của vầng trăng đã đánh thức con người, làm xáo động tâm hồn người lính năm xÆ°a. Con người “giật mình” trước ánh trăng là sá»± bừng tỉnh của nhân cách, là sá»± trở về với lÆ°Æ¡ng tâm trong sạch, tốt đẹp. Đó là lời ân hận, ăn năn day dứt, làm đẹp con người.

* Đặc sắc nội dung và nghệ thuật:

– Nội dung:

Hai khổ cuối bài thơ cho ta thấy sự thức tỉnh của con người.
Lời nhắn gửi con người không được lãng quên quá khứ gian khổ mà sâu đậm nghĩa tình.
Lời nhắc nhở về nghĩa tình thiêng liêng của nhân dân, đất nước và đạo lí uống nước nhớ nguồn.

– Nghệ thuật:

Thể thơ ngũ ngôn với nhiều sáng tạo độc đáo.
Sự kết hợp hài hòa giữa chất tự sự và trữ tình.
Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, gần gũi mà giàu sức gợi.
Giọng điệu tâm tình thấm thía, lúc thì thiết tha cảm xúc, lúc lại trầm lắng, suy tÆ°.

c. Kết bài:

– Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thÆ¡.

3. Bài văn mẫu

Đề bài: Em hãy viết bài văn nêu cảm nhận của em về 2 khổ thơ cuối bài thơ Ánh trăng.

GỢI Ý LÀM BÀI

3.1. Bài văn mẫu số 1

Bao trùm cả bài thÆ¡ “Ánh trăng” của nhà thÆ¡ Nguyễn Duy là một nỗi day dứt, ăn năn cứ kéo dài triền miên khôn nguôi. Ở ngay cái tên bài thÆ¡ cÅ©ng đủ để ta thấy được chủ đề của cả bài thÆ¡. Bởi lẽ, khác với “vầng trăng” là hình ảnh cụ thể thì “ánh trăng” là những tia sáng. Tia sáng ấy đã soi rọi vào góc tối của con người, đánh thức lÆ°Æ¡ng tâm của con người, làm sáng bừng lên cả một quá khứ đầy ắp những kỉ niệm đẹp đẽ, thân thÆ°Æ¡ng.

Khổ thơ thứ năm là hình tượng vầng trăng và cảm xúc, suy ngẫm của nhà thơ. Còn đến khổ thơ thứ sáu là những suy ngẫm và triết lí nhân sinh của nhà thơ qua hình tượng trăng:

Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rung

như là đồng là bể

như là sông là rừng

Từ “mặt” trong khổ thÆ¡ được dùng với nghÄ©a gốc và nghÄ©a chuyển – mặt trăng, mặt người – trăng và người cùng đối diện đàm tâm. Với tÆ° thế “ngá»­a mặt lên nhìn mặt” người đọc cảm nhận sá»± lặng im, thành kính và trong phút chốc cảm xúc dâng trào lúc gặp lại vầng trăng: “có cái gì rÆ°ng rÆ°ng”. RÆ°ng rÆ°ng của những niềm thÆ°Æ¡ng nỗi nhớ, của những lãng quên lạnh nhạt với người bạn cố tri; của một lÆ°Æ¡ng tri đang thức tỉnh sau những ngày đắm chìm trong cõi u mê mộng mị; rÆ°ng rÆ°ng của nỗi ân hận ăn năn về thái độ của chính mình trong suốt thời gian qua. Một chút áy náy, một chút tiếc nuối, một chút xót xa đau lòng, tất cả đã làm nên cái “rÆ°ng rÆ°ng”, cái thổn thức trong sâu thẳm trái tim người lính.

Và trong phút giây nhân vật trữ tình nhìn thẳng vào trăng – biểu tượng đẹp đẽ của một thời xa vắng, nhìn thẳng vào tâm hồn của mình, bao kỉ niệm chợt ùa về chiếm trọn tâm tÆ°. Kí ức về quãng đời ấu thÆ¡ trong sáng, về lúc chiến tranh máu lá»­a, về cái ngày xÆ°a hồn hậu hiện lên rõ dần theo dòng cảm nhận trào dâng, “nhÆ° là đồng là bể, nhÆ° là sông là rừng”. Đồng, bể, sông, rừng, những hình ảnh gắn bó nÆ¡i khoảng trời kỉ niệm.

Cấu trúc song hành của hai câu thơ, nhịp điệu dồn dập cùng biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ và liệt kê như muốn khắc họa rõ hơn kí ức về thời gian gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng lớn lao sâu nặng, nghĩa tình, tri kỉ. Chính thứ ánh sáng dung dị đôn hậu đó của trăng đã chiếu tỏ nhiều kỉ niệm thân thương, đánh thức bao tâm tình vốn tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính. Chất thơ mộc mạc chân thành như vầng trăng hiền hòa, ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm như “có cái gì rưng rưng”,đoạn thơ đã đánh động tình cảm nơi người đọc.

Rưng rưng là biểu hiện xúc động, nước mắt đang ứa ra, sắp khóc. Giọt nước mắt làm cho lòng người thanh thản lại, trong sáng lại. Bao kỉ niệm đẹp ùa về, tâm hồn gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng xưa, với đồng với bể,với sông với rừng. Cấu trúc câu thơ song hành với các biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ cho thấy ngòi bút Nguyễn Duy thật tài hoa. Đoạn thơ hay ở chất thơ bộc bạch chân thành, ở tính biểu cảm, ngôn từ và hình ảnh thơ đi vào lòng người, khắc sâu một cách nhẹ nhàng mà thấm thía những gì nhà thơ muốn tâm sự với chúng ta. Khổ thơ cuối mang hàm ý độc đáo và sâu sắc:

Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình.

Tròn vành vạnh là trăng rằm, một vẻ đẹp viên mãn. Trăng vẫn thuá»· chung mặc cho người nào thay đổi, vô tình với trăng. Ánh trăng im phăng phắc, không một lời trách cứ. Trăng bao dung và độ lượng biết bao. Tấm lòng bao dung độ lượng ấy khiến cho ta phải giật mình. Sá»± giật mình để tá»± lột xác, để trở về. Trở về với chính mình tốt đẹp xÆ°a kia. Đó là cái giật mình để tá»± hoàn thiện.

Tóm lại, với giọng thơ trầm tĩnh, sâu lắng, đoạn thơ trên đã gây nhiều xúc động cho người đọc. Nó như là lời tâm sự, lời tự thú, lời tự nhắc chân thành. Qua đoạn thơ, tác giả muốn nói rằng: phải thuỷ chung, trọn vẹn, phải nghĩa tình sắt son với nhân dân, với đất nước, và ngay với chính bản thân mình.

3.2. Bài văn mẫu số 2

Trăng là một đề tài quen thuộc trong thơ ca. Trăng như một biểu tượng thơ mộng gắn với tâm hồn thi sĩ. Nhưng có một nhà thơ cũng viết về trăng, không chỉ tìm thấy ở đấy cái thơ mộng, mà còn gửi gắm những nỗi niềm tâm sự mang tính hàm nghĩa độc đáo. Đó là trường hợp bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy.

Vầng trăng đã từng gắn bó với tuổi thơ, với cuộc đời người lính, đã trở thành người bạn tri kỉ, ngỡ không bao giờ quên. nhưng hoàn cảnh sống đổi thay, con người cũng thay đổi, có lúc cũng trở nên vô tình. Sau chiến thắng trở về thành phố, quen ánh điện cửa gương, khiến cho vầng trăng tình nghĩa vô tình bị lãng quên. nhưng một tình huống đời thường xảy ra làm cho con người phải giật mình tỉnh ngộ, phải đối mặt với vầng trăng mà sám hối:

Ngửa mặt lên nhìn mặt

Có cái gì rưng rung

Như là đồng là bể

Như là sông là rừng.

Nguyễn Duy đưa người đọc cùng đắm chìm tong suy tÆ°, trong chiêm nghiệm về “vầng trăng tình nghÄ©a” một thời:

Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình

Bài thÆ¡ dừng ở cảm xúc “rÆ°ng rÆ°ng” cÅ©ng đã rõ chủ đề. NhÆ°ng thêm một đoạn cuối, ý tưởng bài thÆ¡ được đẩy cao thêm, rõ hÆ¡n và mạnh hÆ¡n trong sá»± bình luận về một thái độ sống. Hình ảnh “vầng trăng” còn được nhà thÆ¡ nhìn lại “tròn vành vạnh” thật là đẹp, một cái đẹp viên mãn không hề bị khiếm khuyết dù người nào kia thay đổi, vô tình. Ánh trăng sáng tròn đầy hay chính là cái đẹp của tình nghÄ©a thủy chung, nhân hậu? Ánh trăng vừa nghiêm khắc, lạnh lùng, vừa bao dung độ lượng: “kể chi người vô tình”. Chính ánh trăng vô ngôn, không một lời trách cứ ấy đã khiến cho “người vô tình” thấy rõ cái khiếm khuyết của bản thân mà không khỏi “giật mình“ tỉnh ngộ. Thật khó diễn tả cho hết tâm trạng của con người lúc ấy, biết bao ý nghÄ©a hàm ẩn trong hai chữ “giật mình”. Cái “giật mình” chân thành thay cho một lời sám hối ăn năn. Dù lời sám hối ấy không được cất lên nhÆ°ng chính vì thế nó lại làm cho ý thÆ¡ trở nên ám ảnh, day dứt hÆ¡n. Cả bài thÆ¡ là vô nhân xÆ°ng, đến đây tác giả mới xÆ°ng “ta” để nhận lỗi, để tạ tội. Một cái giật mình tái mặt lúc nhận ra chân tướng của chính mình. Đằng sau cái giật mình ấy người đọc cảm nhận được niềm ân hận day dứt của một con người đã nghiêm khắc nhìn thẳng vào mình để nhận ra cái sai của mình. Người xÆ°a hay nói “trong cái rủi có cái may”. Một sá»± cố rất bình thường của nền văn minh hiện đại đã thức tỉnh con người trở về với những giá trị cao đẹp, vÄ©nh hằng. Đó chính là cái hay và độc đáo của bài thÆ¡ có sức cảm hóa lòng người.

Đọc bài thÆ¡ người đọc đều cảm nhận thấy đây không chỉ là câu chuyện riêng của nhà thÆ¡ mà cÅ©ng là chuyện của mình. Từ câu chuyện ấy gợi ra cho người đọc sá»± suy ngẫm và liên tưởng tới cách sống của chính mình . Nhà thÆ¡ tâm sá»± với bạn đọc những điều sâu kín nÆ¡i lòng mình nhÆ°ng cÅ©ng là để gá»­i tới người đọc một bức thông điệp về cách sống đẹp trong hoàn cảnh đất nước hòa bình. Qua tâm sá»± sâu kín của Nguyễn Duy ở bài thÆ¡ “Ánh trăng”, chúng ta nhÆ° được thanh lọc lại tâm hồn mình, nhÆ° lay động miền ký ức mà có lúc vô tình chúng ta đã lãng quên. Mong sao những người nào từng ở với sông, với biển, với đồng, với rừng… trong những năm tháng gian lao ấy luôn luôn có được tình cảm này.

—–Mod Ngữ văn biên soạn và tổng hợp—–

Suy nghĩ về khổ thơ kết thúc bài Ánh trăng của Nguyễn Duy

188

Đóng vai người lính trong bài thơ Ánh trăng kể lại câu chuyện

26947

Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

4265

[rule_2_plain]

#Cáºm #nháºn #khá #thÆ #cuái #bÃi #thÆ #Ãnh #trÄng


  • Tổng hợp: Thư Viện Hỏi Đáp
  • Nguồn: https://hoc247.net/tu-lieu/cam-nhan-2-kho-tho-cuoi-bai-tho-anh-trang-doc36240.html
Back to top button