Biểu Mẫu

Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH1

hoatieu.vn xin giới thiệu tới các bạn Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH1. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH1 là bài về chủ đề tâm lý học dạy học ở tiểu học. Mời các bạn tham khảo.

1. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH1 số 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ………

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———————

BÀI THU HOẠCH

BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN

Module TH1: Một số vấn đề tâm lý học dạy học ở tiểu học

Năm học: ……………………………………………………….

Họ và tên: ……………………………………………………..

Đơn vị:…………………………………………………………….

– Có rất nhiều nghiên cứu đã chứng mình rằng trẻ dưới 10 tuổi cần hoạt động nhiều trong ngày để giữ tim mạch luôn khỏe mạnh. Những trẻ hoạt động dưới 1 tiếng mỗi ngày có thể dễ mắc các bệnh tim mạch và có xu thế tăng cân trong tương lai.

A. Vì sao trẻ cần vận động mỗi ngày?

– Đối với người lớn, thể dục thể thao có nhẽ là một vấn đề khá nghiêm túc vì cần có nơi chốn, giờ giấc rõ ràng, nhưng với, thể dục đơn giản là vui chơi và vận động. Các trò chơi như đuổi bắt, trốn tìm, rồng rắn lên mây…chính là những hoạt động thể dục thích thú của trẻ, thế nên, dù bận rộn thế nào, bạn hãy động viên và sắp xếp để cùng trẻ tham gia các hoạt động ngoài trời. Còn gì hạnh phúc bằng cả gia đình vui chơi cùng nhau, vừa tạo điều kiện tốt cho trẻ vận động cải thiện sức khỏe, vừa gắn kết tình cảm gia đình.

– Bạn chắc hẳn đã quan sát thấy gương mặt tươi tỉnh, nụ cười rạng rỡ của trẻ lúc được thỏa sức vận động cùng bè bạn, gia đình. Vì lúc được tập thể dục, trẻ sẽ được giải phóng năng lượng trong thân thể, sản sinh cảm giác sảng khoái, thoải mái và hăng say.

– Thêm vào đó, lúc trẻ vận động thường xuyên sẽ làm cho mạch máu lưu thông tốt, tăng cường chuyển hóa và tạo thuận tiện cho hoạt động của các cơ quan trong thân thể.

Tham gia các hoạt động thể thao từ nhỏ, trẻ sẽ giảm được nguy cơ nứt gãy xương lúc lớn lên do thể dục thể thao giúp làm tăng mật độ xương tối đa.

– Các nhà khoa học Thụy Điển đã thực hiện nghiên cứu việc tăng trưởng xương của các trẻ mỗi ngày đều dành 40 phút tập thể thao so với một nhóm các trẻ khác chỉ dành 60 phút tập trong 1 tuần. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ trọng xương cột sống của các nhỏ tập thể thao 40 phút mỗi ngày cao hơn các nhỏ có thời kì tập ngắn. Điều đó cho thấy sự vận động của trẻ xúc tiến quá trình trao đổi chất, đặc trưng là lượng canxi làm cho hệ cơ xương vững chắc hơn, tăng trưởng tốt hơn. Tập thể dục còn tạo điều kiện cho trẻ tăng trưởng chiều cao tối ưu và giữ được dáng vóc đẹp, hạn chế nguy cơ bị to phì.

– Chỉ cần quan tâm một tí, bạn sẽ phát xuất hiện tập thể dục giúp trẻ ngủ sâu và ngủ ngon hơn. Tuy nhiên, vận động thể dục còn tăng cường khả năng miễn nhiễm cho trẻ. Những căn bệnh thường hay xảy ra vào thời khắc giao mùa như cúm, sởi, phát ban… sẽ khó có thể xâm nhập vào thân thể trẻ hay tập thể dục.

B. Trẻ vào lớp một:

– Hiểu, nắm vững được những nét đặc trưng về tâm lý của trẻ em thế hệ học trò tiểu học; biết rõ được đặc điểm của hoạt động học cũa học trò và hoạt động dạy của thầy cô giáo. Đồng thời biết rõ được mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động dạy, hoạt động học và sự tăng trưởng tâm lý của học trò.

– Tạo nên kỹ năng tự học, tự nghiên cứu tài liệu, kỹ năng tìm hiểu (nghiên cứu) về học trò, kỹ năng sẵn sàng và thực hiện hoạt động dạy học theo phương pháp sư phạm thích hợp với nhân vật học trò.

– Tăng lên trách nhiệm, có đạo đức nghề nghiệp, yêu quý, tôn trong trẻ em. (“Yêu nghề mến trẻ”).

– Lớp một được xem là bước ngoặt trong cuộc đời của trẻ. Nếu như ở mẫu giáo, hoạt động chủ đạo là vui chơi, thì lúc lên tiểu học, việc học là hoạt động chủ yếu.

– Quá trình chuyển đổi hoạt động chủ đạo sẽ gây cho trẻ rất nhiều khó khăn, nhất là về mặt tâm lý. Nếu như việc học tập diễn ra tốt đẹp thì kéo theo sự tăng trưởng tâm lý của trẻ cũng đúng hướng, thuận tiện và trái lại. Vì vậy, hiểu được sự chuyển biến tâm lý của trẻ ở thời kỳ này là rất quan trọng, sẽ giúp trẻ dễ thích ứng với môi trường mới, tiếp thu sự giáo dục dễ dàng.

C. Những rào cản tâm lý với trẻ

– Khi vào lớp 1, các em sẽ gặp vấn đề trong việc thực hiện nội quy học tập, khả năng điều khiển tâm lý của bản thân còn kém. Các em chưa ý thức được rõ giới hạn giữa chơi và học nên gặp nhiều khó khăn trong lúc chuyển trạng thái từ hoạt động chơi sang học, trẻ chưa biết phân bố thời kì giữa các môn sao cho thích hợp.

– Đặc trưng, trẻ ở thế hệ này phải làm quen với phương pháp học tập mới, học nhiều môn không giống nhau, kể cả những môn các em ko thích. Thậm chí, nếu người lớn ko có sự định hướng kịp thời, sẽ có nhiều em căng thẳng trước khối lượng lớn tri thức vừa mới, vừa trừu tượng. Khả năng phân tán chú ý ở trẻ còn cao, trong lúc đó việc học lại yêu cầu các em phải làm những công việc khôn khéo và tập trung.

– Các em cũng khó thiết lập mối quan hệ với thầy cô, bè bạn. Mặt khác, lúc đi học lớp 1, trẻ tự nhận thấy mình đã lớn, phải có vai trò và trách nhiệm mới đối với gia đình. Đây là những rào cản lớn với trẻ.

– Phụ huynh quan tâm tới con sẽ nhận thấy những biểu lộ nổi trội ở các em như: ko thích đi học hay đi học muộn (kể cả bố mẹ chở tới trường, các em cũng cố nấn ná thêm ở bên ngoài, chưa thích vào lớp); nói chuyên riêng lúc cô đang giảng bài; học ko đồng đều các môn, thường thì các em thích môn nào thì học tốt môn đó; quên ko làm bài tập cô giáo yêu cầu, ko tự giác học (chỉ học lúc nào người lớn nhắc nhở); có khá nhiều trường hợp các em ko dám nói với bố mẹ về điểm kém và việc phạm thiếu sót của mình ở trường.

– Trẻ gặp vấn đề tâm lý phần nhiều do gia đình thờ ơ, ko quan tâm hoặc quá quan tâm tới trẻ, làm cho các em bối rối lúc bước vào và làm quen với môi trường học mới.

– Từ mẫu giáo lên lớp 1 là một bước ngoặt trong cuộc đời của trẻ. Nếu ở mẫu giáo, hoạt động chủ đạo là vui chơi, thì thế hệ học trò tiểu học là hoạt động học tập. Quá trình chuyển đổi hoạt động chủ đạo sẽ gây cho trẻ rất nhiều khó khăn, nhất là tâm lý. Họat động về mặt chủ đạo sẽ quyết định những nét tâm lý đặc trưng nhất của thế hệ học trò tiểu học.

– Hoạt động học tập diễn ra tốt đẹp sẽ kéo theo sự tăng trưởng tâm lý của trẻ đúng hướng, thuận tiện và trái lại. Vì vậy, nếu các bậc phụ huynh cũng như những nhà giáo dục nắm được những trắc trở tâm lý của trẻ và có giải pháp giúp trẻ khắc phục, trẻ sẽ thích ứng với họat động học tập tốt hơn, tiếp thu sự giáo dục được dễ dàng hơn. Từ đó giúp trẻ đạt kết quả cao trong học tập và tăng trưởng tốt tâm lý cũng như tư cách của trẻ.

– Trong quá trình học, các em đã gặp những trắc trở trong việc thực hiện nội quy học tập, khả năng điều khiển các hoạt động tâm lý của bản thân còn kém. Các em chưa ý thức được rõ giới hạn giữa chơi và việc học nên gặp nhiều khó khăn trong lúc chuyển trạng thái từ hoạt động chơi sang học, trẻ chưa biết phân bố thời kì học tập giữa các môn sao cho thích hợp. Các em cũng khó thiết lập mối quan hệ với thầy cô, bè bạn.

– Đặc trưng, trẻ ở thế hệ này phải làm quen với phương pháp học tập mới, phải học nhiều môn không giống nhau, kể cả những môn các em ko thích học. Thậm chí, nếu người lớn ko có sự định hướng kịp thời, sẽ có nhiều em căng thẳng trước khối lượng lớn tri thức vừa mới, vừa trừu tượng. Khả năng phân tán chú ý ở trẻ còn cao, trong lúc đó hoạt động học tập lại yêu cầu các em phải làm những công việc khôn khéo và yêu cầu sự tập trung. Mặt khác, lúc đi học lớp 1, trẻ tự nhận thấy mình đã lớn, phải có vai trò và trách nhiệm mới đối với gia đình. Đó là những yếu tố tâm lý cản trở họat động học tập, làm cho học trò lớp 1 khó thích ứng, kết quả học tập đạt được ko như mong muốn.

Nếu phụ huynh có thời kì quan tâm tới con của mình sẽ nhận thấy những biểu lộ nổi trội ở các em như ko thích đi học hay đi học muộn ( kể cả bố mẹ chở tới trường, các em cũng cố nấn ná thêm ở bên ngoài, chưa thích vào lớp), nói chuyên riêng lúc cô đang giảng bài; học ko đồng đều các môn, thường thì các em thích môn nào thì học tốt môn đó; quên ko làm bài tập cô giáo yêu cầu, ko tự giác học (chỉ học lúc nào người lớn nhắc nhở); có khá nhiều trường hợp các em ko dám nói với bố mẹ về điểm kém và vi phạm thiếu sót của mình ở trường.

Cha mẹ cần tìm cách khắc phục dần dần nếu trẻ đạt kết quả ko tốt ở năm đầu bậc tiểu học.

– Không ít phụ huynh khó tưởng tượng được rằng bước sang một môi trường học tập mới, trẻ hoàn toàn xa lạ, các em chưa được sẵn sàng tâm lý sẵn sàng đi học, chưa tìm thấy hứng thú trong học tập, những điều mới lạ trong những bài học còn trừu tượng chưa kích thích được tính tự giác, tích cực của trẻ. Vì thế, trẻ chưa tạo nên được hình thức học tập khoa học và hiệu quả.

– Có những bậc phụ huynh cứ nghĩ rằng cho con ăn uống, may sắm quần áo và sách vở là đủ. Trong lúc đó, điều trẻ cần là cha mẹ hướng dẫn các em hiểu rõ nội quy học tập cần phải làm gì? Làm như thế nào? Làm để được cái gì?

– Ở thời khắc này, điểm số còn quá chung chung đối với trẻ. Tuy nhiên, nhiều gia đình lại yêu cầu trẻ hàng tuần, hàng tháng phải có một số điểm 10 nhất mực, làm cho trẻ chỉ biết “chạy” theo điểm, để được cha mẹ khen thưởng.

– Một nguyên nhân khác là cách dạy của thầy cô giáo chưa thích hợp, khiến các em ngỡ ngàng, khó làm quen trước việc dạy của thầy cô giáo mới (ko giống như ở mẫu giáo). Giáo viên thường xuyên rà soát, nhận định mọi công việc của trẻ, nhưng chưa động viên, khuyến khích kịp thời, làm cho mối quan hệ giữa thầy cô giáo và học trò luôn có khoảng cách, các em khó thân thiện với thầy cô giáo.

D. Cách giúp trẻ vượt qua bước ngoặt lớp một:

– Chia sẻ cùng trẻ. Trong thời khắc này, các bậc phụ huynh nên sẵn sàng những điều kiện tốt nhất cho trẻ, ngoài quần áo, đồ dùng học tập… thì việc tạo cho trẻ một tâm lý sẵn sàng là rất quan trọng.

– Hãy nói với trẻ biết trước về môi trường mới, thầy cô mới, nội dung học tập mới, những trắc trở cũng như thuận tiện nhất mực để trẻ tập làm quen ngay ở nhà. Đồng thời nếu có điều kiện cha mẹ cũng nên cho trẻ làm quen với môi trường học tập mới trong dịp hè, như cho trẻ tới trường để thăm quan, làm quen với anh chị lớn tuổi hơn, tập thói quen chấp hành nội quy…

– Cha mẹ tạo điều kiện thuận tiện cho con học tập, xây dựng bầu ko khí gia đình luôn vui vẻ, êm ấm, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng vào con cái, tạo cho trẻ tâm lý thoải mái trong lúc học tập.

– Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường, tôn trọng tư cách trẻ, động viên các em trong suốt quá trình học tập… là tuyến đường ngắn nhất để cùng trẻ khắc phục những trắc trở tâm lý ở những ngày đầu lúc bước vào lớp 1.

– Theo các chuyên gia tâm lý, học trò lớp 1 lúc thực hiện hoạt động học tập luôn gặp phải những trắc trở tâm lý nhất mực, diễn ra trên nhiều mặt: hiểu biết, thái độ và thói quen hành vi đạo đức. Rào cản tâm lý trong hoạt động học tập của các em do nhiều nguyên nhân không giống nhau.

– Trong nhà trường, cần phát triển hơn nữa quan hệ giao lưu giữa thầy cô giáo và học trò, khắc phục cản trở trong quan hệ thầy trò.

– Trong gia đình cần có sự quan tâm đúng mức, cha mẹ tạo điều kiện thuận tiện cho con học tập, xây dựng bầu ko khí gia đình luôn vui vẻ, êm ấm, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng vào con cái, tạo cho trẻ tâm lý thoải mái trong lúc học tập. Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường, tôn trọng tư cách trẻ, động viên các em trong suốt quá trình học tập… là tuyến đường ngắn nhất để cùng trẻ khắc phục những trắc trở tâm lý trong học tập ở năm đầu bậc tiểu học.

Người viết thu hoạch

2. Bài thu hoạch BDTX module TH1 cấp tiểu học số 1

Nội dung: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÂM LÍ HỌC DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC

1/ Tâm lí học về sự tăng trưởng trí tuệ học trò tiểu học:

a/ Khái niệm trí tuệ:

– Trí tuệ là vấn đề phức tạp của cả Triết học, Tâm lí học và Giáo dục học. Ở đây, chỉ xem xét trí tuệ dưới góc độ Tâm lí học và Giáo dục học. Cũng như nhiều khái niệm vốn có còn mang nặng màu sắc “đời sống”, thuật ngữ “trí tuệ” cũng được hiểu theo nhiều cách không giống nhau.

– Trí tuệ biểu lộ ra nhiều mặt và liên quan tới nhiều hiện tượng tâm lí không giống nhau. Trí tuệ có thể biểu lộ ở mặt nhận thức như nhanh biết, nhanh hiểu, mau nhớ hoặc biết suy xét, tìm ra nhanh các quy luật, có óc tưởng tượng phong phú, tưởng tượng ngay và đúng điều người khác nói, tới hành động nhanh trí, thông minh tháo vát, linh hoạt; tới các phẩm chất: óc tò mò, lòng say mê, sự kiên trì miệt mài.

b/ Những đặc điểm của trí tuệ:

– Nhận thức được đặc điểm thực chất của tình huống mới do người khác đưa ra hoặc tự mình nêu ra vấn đề cần khắc phục.

– Thông minh dụng cụ mới, phương pháp mới, hình thức mới, thích hợp với hoàn hoàn cảnh mới (tất nhiên trên cơ sở những tri thức và kinh nghiệm tiếp thu được trước đó). Do đó, trí tuệ ko chỉ bộc lộ qua nhận thức nhưng mà qua cả hành động. Đa số các hành động đều được tổ chức trong óc trước lúc đưa vào thực hiện.

c/ Một vấn đề về tạo nên trí tuệ:

– Thực chất của việc tạo nên trí tuệ là tăng trưởng năng lực suy nghĩ, thông minh nhưng mà bước đầu là nhận thức “bài toán”, giải các “bài toán” thực tiễn ở các mức độ không giống nhau.

– Việc tạo nên và tăng trưởng trí tuệ phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, thống nhất và có hệ thống đặc trưng lúc trẻ em ở tiểu học.

– Tạo nên và tăng trưởng trí tuệ ko tách rời việc rèn luyện năng lực quan sát, tăng trưởng sự ghi nhớ.

– Tạo nên trí tuệ phải đi song song với việc giáo tình dục cảm đẹp, rèn luyện ý chí và bồi dưỡng những phẩm chất khác của tư cách.

– Muốn tạo nên trí tuệ cho trẻ em, đặc trưng ở bậc Tiểu học, cần phải thay đổi cấu trúc, nội dung tài liệu dạy học. Trong dạy học nếu nội dung còn là những trí tuệ cũ, có tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa thì dù phương pháp giảng dạy có được đổi mới, thì cũng ko tác động tới sự tăng trưởng trí tuệ của học trò. Phcửa ải xây dựng nội dung dạy học sao cho nó ko phải “thích ứng” với trình độ sẵn có của trẻ, nhưng mà yêu cầu trẻ phải có trình độ cao hơn, có phương thức hoạt động trí tuệ phức tạp hơn. Nếu trẻ thực sự nắm được nội dung thì đó là tiêu chí rõ nhất về trình độ trí tuệ của trẻ.

– Tất cả thầy cô giáo đều có nhiệm vụ và có thể góp phần vào việc tăng trưởng trí tuệ của học trò bằng cách tạo ra các điều kiện để học trò suy nghĩ chủ động, độc lập thông minh trong việc đề ra và khắc phục các “bài toán” nhận thức và thực tiễn. Nhiệm vụ này cần được thực hiện thường xuyên, liên tục và có hệ thống trong từng giờ lên lớp

2. Tâm lí học về sự tạo nên kỹ năng học tập của học trò tiểu học:

a/ Sự tạo nên kỹ năng:

– Kỹ năng là khả năng vận dụng tri thức để khắc phục một nhiệm vụ mới. Việc tạo nên kỹ năng phụ thuộc vào nội dung của nhiệm vụ, bài tập…Thực chất của sự tạo nên kỹ năng là tạo nên cho học trò nắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm sáng tỏ và làm chuyển đổi những thông tin chứa đựng trong bài tập. Giúp học trò tạo nên mẫu hình nói chung để khắc phục các bài tập .

– Kĩ xảo là hành động đã được củng cố và tự động hóa. Kĩ xảo ít có sự tham gia của ý thức, nhưng ý thức luôn túc trực để xuất hiện kịp thời lúc có vấn đề. Các động tác thừa và phụ bị loại trừ, những động tác cần thiết ngày càng xác thực hơn, nhanh hơn tiết kiệm năng lượng và thời kì, đảm bảo chất lượng tốt.

– Kĩ xảo ko gắn với một tình huống cụ thể, có thể vận chuyển dễ dàng tùy theo mục tiêu và tính chất của hành động. Muốn tạo nên kĩ xảo cho học trò thì cần phải làm cho học trò hiểu giải pháp hành động. Luyện tập thường xuyên để trở thành hành động tự động hóa, thói quen.

b/ Một số kỹ năng, kĩ xảo cần có của học trò tiểu học:

– Những kỹ năng, kĩ xảo học tập gồm những kỹ năng, kĩ xảo: đọc, viết, tính toán… Trong đó, đọc là hoạt động phức tạp đối với học trò lớp 1. Kĩ xảo viết cũng ko phải đơn giản, yêu cầu các em phải nắm quy tắc chính tả, tự động hoá mọi động tác, rà soát nhanh và tinh những chữ đã viết, đồng thời tiếp tục viết những chữ mới…

– Những kỹ năng, kĩ xảo lao động: chủ yếu là lao động tự phục vụ, lao động đơn giản như kỹ năng kĩ xảo sử dụng các dụng cụ lao động…

– Những kỹ năng, kĩ xảo vệ sinh như biết đánh răng rửa mặt…

– Những kỹ năng, kĩ xảo về hành vi như các kỹ năng, kĩ xảo đi đứng, ngồi ngay ngắn, biết ra vào đúng lối, biết cách chào thầy cô giáo…

c/ Một số yêu cầu đối với việc tạo nên kỹ năng, kĩ xảo và thói quen :

– Làm cho học trò thích thú luyện tập. Luyện cho học trò có thói quen giữ vở sạch viết chữ đẹp, vượt khó trong học tập.

– Làm cho học trò hiểu được hình thức luyện tập. Khi hướng dẫn một hành động hoặc một công việc gì đó cho học trò yêu cầu thầy cô giáo phải nghiên cứu tỉ mỉ để hướng dẫn từng thao tác sau đó mới luyện tập cho nhanh cho khéo

– Cần phải chỉ ra kịp thời những sơ sót của học trò. Những hướng dẫn của thầy cô giáo về những sơ sót trong phương pháp hành động và sự nhận định mức độ thích hợp giữa kết quả đạt được với mục tiêu đề ra có ý nghĩa quan trọng. Biết kết quả và hiểu nguyên nhân của sự sơ sót trong hành động là một trong những điều kiện chủ yếu để chuyển từ kỹ năng sang kĩ xảo nhanh chóng.

– Phcửa ải thực hiện luyện tập có hệ thống và liên tục, việc luyện tập phải đi từ dễ tới khó, từ đơn giản tới phức tạp. Ví dụ: Từ chỗ dạy cho các em đọc được, đọc đúng tới đọc trôi chảy và diễn cảm

– Phcửa ải rà soát và nhận định kết quả luyện tập. Khi luyện tập thầy cô giáo phải theo dõi, uốn nắn kịp thời những sơ sót của học trò ngay từ đầu. Quan trọng thầy cô giáo phải làm đúng mẫu. Sau đó để các em tự làm và thầy cô giáo theo dõi nhận định. Điều quan trọng là thầy cô giáo phải dạy cho các em tự rà soát, dần dần sẽ tạo nên thói quen tự rà soát, tự nhận định hành động của mình.

– Phcửa ải củng cố những kỹ năng kĩ xảo và thói quen đã được tạo nên. Ở tuổi học trò tiểu học, kỹ năng kĩ xảo, thói quen dễ tạo nên nhưng chưa vững bền nên việc củng cố kỹ năng, kĩ xảo là một điều cần thiết.

3/ Tâm lí học về giáo dục đạo đức học trò tiểu học:

a/ Khái niệm về đạo đức:

– Trong quá trình quan hệ qua lại với nhau và với xã hội con người đã đưa ra yêu cầu cho bản thân, nó được diễn tả bằng những mệnh đề hay một thuật ngữ nào đó và được gọi là những chuẩn mực đạo đức.

– Đạo đức là hệ thống những chuẩn mực biểu lộ thái độ nhận định quan hệ giữa lợi ích của bản thân với lợi ích của người khác và của xã hội.

b/ Vấn đề giáo dục đạo đức cho học trò tiểu học:

– Giáo dục đạo đức cho học trò là một trong những nhiệm vụ của nhà trường tiểu học hiện nay. Nó có một ý nghĩa chiến lược quan trọng. Bởi lẽ: “bồi dưỡng thế hệ cách mệnh cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”. Cùng với gia đình, xã hội, nhà trường có trách nhiệm phải chăm lo giáo dục đạo đức cho học trò.

– Muốn giáo dục học trò thì phải hiểu học trò, thầy cô giáo chỉ có thể hiểu được học trò lúc người thầy cô giáo biết tôn trọng và thân thiện học trò. Những lời than phiền người lớn ko hiểu trẻ em từ phía trẻ em ko phải là ko có lý. Sự vội vã, ko biết lắng tai, ko muốn tìm hiểu những gì đang diễn ra trong toàn cầu nội tâm của học trò, nhưng mà chỉ tin tưởng một cách tự mãn vào kinh nghiệm của mình chính là nguyên nhân tạo nên hàng rào tâm lý cách trở giữa nhà giáo dục với trẻ em và chính những yếu tố này góp phần tạo ra khảnăng “tự vệ tâm lý” nhưng mà trình bày rõ nhất ở tính bất cần, sự hung hăng, sự ko tiếp thu… của trẻ em với người lớn kể cả những người thân như cha mẹ, anh chị em…

– Cung cấp những tri thức đạo đức cho học trò. Giáo viên phải cung ứng cho các em tri thức đạo đức về: hiểu biết đạo đức, nghĩa vụ, trách nhiệm, trách nhiệm phải làm, về thái độ phải có… Đây là một khâu quan trọng của giáo dục đạo đức. Việc làm này có tác dụng làm cho đạo đức của học trò được xây dựng trên cơ sở lý trí, từ đó các em có thể nhìn ra và nhận định được cái thiện, cái ác, cái xấu, cái cao thượng, cái nhỏ nhen, cái ti tiện. Giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua các giờ học môn đạo đức, môn tự nhiên xã hội, hoạt động ngoài giờ chưa đủ làm cho những tri thức hiểu biết về chuẩn mực đạo đức bắt rễ sâu vào trí tuệ của học trò, chứ đừng nói tới việc tạo nên tình cảm đạo đức, động cơ đạo đức và niềm tin đạo đức… Đồng thời, các môn học khác của nhà trường cũng phải góp phần cung ứng những tri thức về đạo đức cho học trò.

– Biến tri thức đạo đức thành niềm tin và tình cảm đạo đức, đồng thời chú trọng học tập hành vi đạo đức và thói quen đạo đức. Muốn biết tri thức đạo đức thành niềm tin và tình cảm đạo đức ko thể ko tìm mọi cách tác động vào tình cảm đạo đức và ý chí học trò. Tác động vào tình cảm, sự học tập, thái độ và chuyển được tri thức đạo đức thành niềm tin đạo đức. Việc tổ chức cho học trò xúc tiếp với người thực, việc thực, với chính chủ thể của các hành vi đạo đức có thật sẽ tác động nhiều hơn so với lý thuyết dông dài, khô khan, cứng nhắc về những điều phải làm và ko làm được. Việc thực và người thực có khả năng đi thẳng vào niềm tin của mỗi học trò, của nhóm và tập thể nhưng mà học trò là thành viên. Những hành vi đó là mẫu mực để học trò noi theo.

– Tận dụng tác động tâm lý của nhóm, tập thể, trong việc giáo dục đạo đức cho học trò. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội trình bày một thái độ nhận định của xã hội. Kinh nghiệm đạo đức của nhóm và tập thể được xem là chuẩn mực đạo đức xã hội đối với các em. Học trò có thể tham gia vào các nhóm không giống nhau, nhưng trong phạm vi nhà trường thì có thể kể ra 3 nhóm chính: tổ học tập (lớp), chi đội và nhóm học trò ở nơi ở.

– Việc giáo dục đạo đức cho học trò, thầy cô giáo phải biết tìm ra những tình huống trong cuộc sống thực tiễn để các em lựa chọn giải pháp, phân tích, phê phán, khích lệ và cuối cùng thầy cô giáo đưa ra kết luận. Cách làm này có sức khắc sâu, lắng đọng và tâm hồn các em.

Mời độc giả cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục huấn luyện trong mục biểu mẫu nhé.

  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH3
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH4
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH20

Thông tin thêm

Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH1

[rule_3_plain]

hoatieu.vn xin giới thiệu tới các bạn Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH1. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH1 là bài về chủ đề tâm lý học dạy học ở tiểu học. Mời các bạn tham khảo.
1. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH1 số 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ………

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc———————

BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN
Module TH1: Một số vấn đề tâm lý học dạy học ở tiểu học
Năm học: ……………………………………………………….
Họ và tên: ……………………………………………………..
Đơn vị:…………………………………………………………….
– Có rất nhiều nghiên cứu đã chứng mình rằng trẻ dưới 10 tuổi cần hoạt động nhiều trong ngày để giữ tim mạch luôn khỏe mạnh. Những trẻ hoạt động dưới 1 tiếng mỗi ngày có thể dễ mắc các bệnh tim mạch và có xu thế tăng cân trong tương lai.
A. Vì sao trẻ cần vận động mỗi ngày?
– Đối với người lớn, thể dục thể thao có nhẽ là một vấn đề khá nghiêm túc vì cần có nơi chốn, giờ giấc rõ ràng, nhưng với, thể dục đơn giản là vui chơi và vận động. Các trò chơi như đuổi bắt, trốn tìm, rồng rắn lên mây…chính là những hoạt động thể dục thích thú của trẻ, thế nên, dù bận rộn thế nào, bạn hãy động viên và sắp xếp để cùng trẻ tham gia các hoạt động ngoài trời. Còn gì hạnh phúc bằng cả gia đình vui chơi cùng nhau, vừa tạo điều kiện tốt cho trẻ vận động cải thiện sức khỏe, vừa gắn kết tình cảm gia đình.
– Bạn chắc hẳn đã quan sát thấy gương mặt tươi tỉnh, nụ cười rạng rỡ của trẻ lúc được thỏa sức vận động cùng bè bạn, gia đình. Vì lúc được tập thể dục, trẻ sẽ được giải phóng năng lượng trong thân thể, sản sinh cảm giác sảng khoái, thoải mái và hăng say.
– Thêm vào đó, lúc trẻ vận động thường xuyên sẽ làm cho mạch máu lưu thông tốt, tăng cường chuyển hóa và tạo thuận tiện cho hoạt động của các cơ quan trong thân thể.
Tham gia các hoạt động thể thao từ nhỏ, trẻ sẽ giảm được nguy cơ nứt gãy xương lúc lớn lên do thể dục thể thao giúp làm tăng mật độ xương tối đa.
– Các nhà khoa học Thụy Điển đã thực hiện nghiên cứu việc tăng trưởng xương của các trẻ mỗi ngày đều dành 40 phút tập thể thao so với một nhóm các trẻ khác chỉ dành 60 phút tập trong 1 tuần. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ trọng xương cột sống của các nhỏ tập thể thao 40 phút mỗi ngày cao hơn các nhỏ có thời kì tập ngắn. Điều đó cho thấy sự vận động của trẻ xúc tiến quá trình trao đổi chất, đặc trưng là lượng canxi làm cho hệ cơ xương vững chắc hơn, tăng trưởng tốt hơn. Tập thể dục còn tạo điều kiện cho trẻ tăng trưởng chiều cao tối ưu và giữ được dáng vóc đẹp, hạn chế nguy cơ bị to phì.
– Chỉ cần quan tâm một tí, bạn sẽ phát xuất hiện tập thể dục giúp trẻ ngủ sâu và ngủ ngon hơn. Tuy nhiên, vận động thể dục còn tăng cường khả năng miễn nhiễm cho trẻ. Những căn bệnh thường hay xảy ra vào thời khắc giao mùa như cúm, sởi, phát ban… sẽ khó có thể xâm nhập vào thân thể trẻ hay tập thể dục.
B. Trẻ vào lớp một:
– Hiểu, nắm vững được những nét đặc trưng về tâm lý của trẻ em thế hệ học trò tiểu học; biết rõ được đặc điểm của hoạt động học cũa học trò và hoạt động dạy của thầy cô giáo. Đồng thời biết rõ được mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động dạy, hoạt động học và sự tăng trưởng tâm lý của học trò.
– Tạo nên kỹ năng tự học, tự nghiên cứu tài liệu, kỹ năng tìm hiểu (nghiên cứu) về học trò, kỹ năng sẵn sàng và thực hiện hoạt động dạy học theo phương pháp sư phạm thích hợp với nhân vật học trò.
– Tăng lên trách nhiệm, có đạo đức nghề nghiệp, yêu quý, tôn trong trẻ em. (“Yêu nghề mến trẻ”).
– Lớp một được xem là bước ngoặt trong cuộc đời của trẻ. Nếu như ở mẫu giáo, hoạt động chủ đạo là vui chơi, thì lúc lên tiểu học, việc học là hoạt động chủ yếu.
– Quá trình chuyển đổi hoạt động chủ đạo sẽ gây cho trẻ rất nhiều khó khăn, nhất là về mặt tâm lý. Nếu như việc học tập diễn ra tốt đẹp thì kéo theo sự tăng trưởng tâm lý của trẻ cũng đúng hướng, thuận tiện và trái lại. Vì vậy, hiểu được sự chuyển biến tâm lý của trẻ ở thời kỳ này là rất quan trọng, sẽ giúp trẻ dễ thích ứng với môi trường mới, tiếp thu sự giáo dục dễ dàng.
C. Những rào cản tâm lý với trẻ
– Khi vào lớp 1, các em sẽ gặp vấn đề trong việc thực hiện nội quy học tập, khả năng điều khiển tâm lý của bản thân còn kém. Các em chưa ý thức được rõ giới hạn giữa chơi và học nên gặp nhiều khó khăn trong lúc chuyển trạng thái từ hoạt động chơi sang học, trẻ chưa biết phân bố thời kì giữa các môn sao cho thích hợp.
– Đặc trưng, trẻ ở thế hệ này phải làm quen với phương pháp học tập mới, học nhiều môn không giống nhau, kể cả những môn các em ko thích. Thậm chí, nếu người lớn ko có sự định hướng kịp thời, sẽ có nhiều em căng thẳng trước khối lượng lớn tri thức vừa mới, vừa trừu tượng. Khả năng phân tán chú ý ở trẻ còn cao, trong lúc đó việc học lại yêu cầu các em phải làm những công việc khôn khéo và tập trung.
– Các em cũng khó thiết lập mối quan hệ với thầy cô, bè bạn. Mặt khác, lúc đi học lớp 1, trẻ tự nhận thấy mình đã lớn, phải có vai trò và trách nhiệm mới đối với gia đình. Đây là những rào cản lớn với trẻ.
– Phụ huynh quan tâm tới con sẽ nhận thấy những biểu lộ nổi trội ở các em như: ko thích đi học hay đi học muộn (kể cả bố mẹ chở tới trường, các em cũng cố nấn ná thêm ở bên ngoài, chưa thích vào lớp); nói chuyên riêng lúc cô đang giảng bài; học ko đồng đều các môn, thường thì các em thích môn nào thì học tốt môn đó; quên ko làm bài tập cô giáo yêu cầu, ko tự giác học (chỉ học lúc nào người lớn nhắc nhở); có khá nhiều trường hợp các em ko dám nói với bố mẹ về điểm kém và việc phạm thiếu sót của mình ở trường.
– Trẻ gặp vấn đề tâm lý phần nhiều do gia đình thờ ơ, ko quan tâm hoặc quá quan tâm tới trẻ, làm cho các em bối rối lúc bước vào và làm quen với môi trường học mới.
– Từ mẫu giáo lên lớp 1 là một bước ngoặt trong cuộc đời của trẻ. Nếu ở mẫu giáo, hoạt động chủ đạo là vui chơi, thì thế hệ học trò tiểu học là hoạt động học tập. Quá trình chuyển đổi hoạt động chủ đạo sẽ gây cho trẻ rất nhiều khó khăn, nhất là tâm lý. Họat động về mặt chủ đạo sẽ quyết định những nét tâm lý đặc trưng nhất của thế hệ học trò tiểu học.
– Hoạt động học tập diễn ra tốt đẹp sẽ kéo theo sự tăng trưởng tâm lý của trẻ đúng hướng, thuận tiện và trái lại. Vì vậy, nếu các bậc phụ huynh cũng như những nhà giáo dục nắm được những trắc trở tâm lý của trẻ và có giải pháp giúp trẻ khắc phục, trẻ sẽ thích ứng với họat động học tập tốt hơn, tiếp thu sự giáo dục được dễ dàng hơn. Từ đó giúp trẻ đạt kết quả cao trong học tập và tăng trưởng tốt tâm lý cũng như tư cách của trẻ.
– Trong quá trình học, các em đã gặp những trắc trở trong việc thực hiện nội quy học tập, khả năng điều khiển các hoạt động tâm lý của bản thân còn kém. Các em chưa ý thức được rõ giới hạn giữa chơi và việc học nên gặp nhiều khó khăn trong lúc chuyển trạng thái từ hoạt động chơi sang học, trẻ chưa biết phân bố thời kì học tập giữa các môn sao cho thích hợp. Các em cũng khó thiết lập mối quan hệ với thầy cô, bè bạn.
– Đặc trưng, trẻ ở thế hệ này phải làm quen với phương pháp học tập mới, phải học nhiều môn không giống nhau, kể cả những môn các em ko thích học. Thậm chí, nếu người lớn ko có sự định hướng kịp thời, sẽ có nhiều em căng thẳng trước khối lượng lớn tri thức vừa mới, vừa trừu tượng. Khả năng phân tán chú ý ở trẻ còn cao, trong lúc đó hoạt động học tập lại yêu cầu các em phải làm những công việc khôn khéo và yêu cầu sự tập trung. Mặt khác, lúc đi học lớp 1, trẻ tự nhận thấy mình đã lớn, phải có vai trò và trách nhiệm mới đối với gia đình. Đó là những yếu tố tâm lý cản trở họat động học tập, làm cho học trò lớp 1 khó thích ứng, kết quả học tập đạt được ko như mong muốn.
Nếu phụ huynh có thời kì quan tâm tới con của mình sẽ nhận thấy những biểu lộ nổi trội ở các em như ko thích đi học hay đi học muộn ( kể cả bố mẹ chở tới trường, các em cũng cố nấn ná thêm ở bên ngoài, chưa thích vào lớp), nói chuyên riêng lúc cô đang giảng bài; học ko đồng đều các môn, thường thì các em thích môn nào thì học tốt môn đó; quên ko làm bài tập cô giáo yêu cầu, ko tự giác học (chỉ học lúc nào người lớn nhắc nhở); có khá nhiều trường hợp các em ko dám nói với bố mẹ về điểm kém và vi phạm thiếu sót của mình ở trường.
Cha mẹ cần tìm cách khắc phục dần dần nếu trẻ đạt kết quả ko tốt ở năm đầu bậc tiểu học.
– Không ít phụ huynh khó tưởng tượng được rằng bước sang một môi trường học tập mới, trẻ hoàn toàn xa lạ, các em chưa được sẵn sàng tâm lý sẵn sàng đi học, chưa tìm thấy hứng thú trong học tập, những điều mới lạ trong những bài học còn trừu tượng chưa kích thích được tính tự giác, tích cực của trẻ. Vì thế, trẻ chưa tạo nên được hình thức học tập khoa học và hiệu quả.
– Có những bậc phụ huynh cứ nghĩ rằng cho con ăn uống, may sắm quần áo và sách vở là đủ. Trong lúc đó, điều trẻ cần là cha mẹ hướng dẫn các em hiểu rõ nội quy học tập cần phải làm gì? Làm như thế nào? Làm để được cái gì?
– Ở thời khắc này, điểm số còn quá chung chung đối với trẻ. Tuy nhiên, nhiều gia đình lại yêu cầu trẻ hàng tuần, hàng tháng phải có một số điểm 10 nhất mực, làm cho trẻ chỉ biết “chạy” theo điểm, để được cha mẹ khen thưởng.
– Một nguyên nhân khác là cách dạy của thầy cô giáo chưa thích hợp, khiến các em ngỡ ngàng, khó làm quen trước việc dạy của thầy cô giáo mới (ko giống như ở mẫu giáo). Giáo viên thường xuyên rà soát, nhận định mọi công việc của trẻ, nhưng chưa động viên, khuyến khích kịp thời, làm cho mối quan hệ giữa thầy cô giáo và học trò luôn có khoảng cách, các em khó thân thiện với thầy cô giáo.
D. Cách giúp trẻ vượt qua bước ngoặt lớp một:
– Chia sẻ cùng trẻ. Trong thời khắc này, các bậc phụ huynh nên sẵn sàng những điều kiện tốt nhất cho trẻ, ngoài quần áo, đồ dùng học tập… thì việc tạo cho trẻ một tâm lý sẵn sàng là rất quan trọng.
– Hãy nói với trẻ biết trước về môi trường mới, thầy cô mới, nội dung học tập mới, những trắc trở cũng như thuận tiện nhất mực để trẻ tập làm quen ngay ở nhà. Đồng thời nếu có điều kiện cha mẹ cũng nên cho trẻ làm quen với môi trường học tập mới trong dịp hè, như cho trẻ tới trường để thăm quan, làm quen với anh chị lớn tuổi hơn, tập thói quen chấp hành nội quy…
– Cha mẹ tạo điều kiện thuận tiện cho con học tập, xây dựng bầu ko khí gia đình luôn vui vẻ, êm ấm, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng vào con cái, tạo cho trẻ tâm lý thoải mái trong lúc học tập.
– Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường, tôn trọng tư cách trẻ, động viên các em trong suốt quá trình học tập… là tuyến đường ngắn nhất để cùng trẻ khắc phục những trắc trở tâm lý ở những ngày đầu lúc bước vào lớp 1.
– Theo các chuyên gia tâm lý, học trò lớp 1 lúc thực hiện hoạt động học tập luôn gặp phải những trắc trở tâm lý nhất mực, diễn ra trên nhiều mặt: hiểu biết, thái độ và thói quen hành vi đạo đức. Rào cản tâm lý trong hoạt động học tập của các em do nhiều nguyên nhân không giống nhau.
– Trong nhà trường, cần phát triển hơn nữa quan hệ giao lưu giữa thầy cô giáo và học trò, khắc phục cản trở trong quan hệ thầy trò.
– Trong gia đình cần có sự quan tâm đúng mức, cha mẹ tạo điều kiện thuận tiện cho con học tập, xây dựng bầu ko khí gia đình luôn vui vẻ, êm ấm, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng vào con cái, tạo cho trẻ tâm lý thoải mái trong lúc học tập. Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường, tôn trọng tư cách trẻ, động viên các em trong suốt quá trình học tập… là tuyến đường ngắn nhất để cùng trẻ khắc phục những trắc trở tâm lý trong học tập ở năm đầu bậc tiểu học.
Người viết thu hoạch
2. Bài thu hoạch BDTX module TH1 cấp tiểu học số 1
Nội dung: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÂM LÍ HỌC DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC
1/ Tâm lí học về sự tăng trưởng trí tuệ học trò tiểu học:
a/ Khái niệm trí tuệ:
– Trí tuệ là vấn đề phức tạp của cả Triết học, Tâm lí học và Giáo dục học. Ở đây, chỉ xem xét trí tuệ dưới góc độ Tâm lí học và Giáo dục học. Cũng như nhiều khái niệm vốn có còn mang nặng màu sắc “đời sống”, thuật ngữ “trí tuệ” cũng được hiểu theo nhiều cách không giống nhau.
– Trí tuệ biểu lộ ra nhiều mặt và liên quan tới nhiều hiện tượng tâm lí không giống nhau. Trí tuệ có thể biểu lộ ở mặt nhận thức như nhanh biết, nhanh hiểu, mau nhớ hoặc biết suy xét, tìm ra nhanh các quy luật, có óc tưởng tượng phong phú, tưởng tượng ngay và đúng điều người khác nói, tới hành động nhanh trí, thông minh tháo vát, linh hoạt; tới các phẩm chất: óc tò mò, lòng say mê, sự kiên trì miệt mài.
b/ Những đặc điểm của trí tuệ:
– Nhận thức được đặc điểm thực chất của tình huống mới do người khác đưa ra hoặc tự mình nêu ra vấn đề cần khắc phục.
– Thông minh dụng cụ mới, phương pháp mới, hình thức mới, thích hợp với hoàn hoàn cảnh mới (tất nhiên trên cơ sở những tri thức và kinh nghiệm tiếp thu được trước đó). Do đó, trí tuệ ko chỉ bộc lộ qua nhận thức nhưng mà qua cả hành động. Đa số các hành động đều được tổ chức trong óc trước lúc đưa vào thực hiện.
c/ Một vấn đề về tạo nên trí tuệ:
– Thực chất của việc tạo nên trí tuệ là tăng trưởng năng lực suy nghĩ, thông minh nhưng mà bước đầu là nhận thức “bài toán”, giải các “bài toán” thực tiễn ở các mức độ không giống nhau.
– Việc tạo nên và tăng trưởng trí tuệ phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, thống nhất và có hệ thống đặc trưng lúc trẻ em ở tiểu học.
– Tạo nên và tăng trưởng trí tuệ ko tách rời việc rèn luyện năng lực quan sát, tăng trưởng sự ghi nhớ.
– Tạo nên trí tuệ phải đi song song với việc giáo tình dục cảm đẹp, rèn luyện ý chí và bồi dưỡng những phẩm chất khác của tư cách.
– Muốn tạo nên trí tuệ cho trẻ em, đặc trưng ở bậc Tiểu học, cần phải thay đổi cấu trúc, nội dung tài liệu dạy học. Trong dạy học nếu nội dung còn là những trí tuệ cũ, có tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa thì dù phương pháp giảng dạy có được đổi mới, thì cũng ko tác động tới sự tăng trưởng trí tuệ của học trò. Phcửa ải xây dựng nội dung dạy học sao cho nó ko phải “thích ứng” với trình độ sẵn có của trẻ, nhưng mà yêu cầu trẻ phải có trình độ cao hơn, có phương thức hoạt động trí tuệ phức tạp hơn. Nếu trẻ thực sự nắm được nội dung thì đó là tiêu chí rõ nhất về trình độ trí tuệ của trẻ.
– Tất cả thầy cô giáo đều có nhiệm vụ và có thể góp phần vào việc tăng trưởng trí tuệ của học trò bằng cách tạo ra các điều kiện để học trò suy nghĩ chủ động, độc lập thông minh trong việc đề ra và khắc phục các “bài toán” nhận thức và thực tiễn. Nhiệm vụ này cần được thực hiện thường xuyên, liên tục và có hệ thống trong từng giờ lên lớp
2. Tâm lí học về sự tạo nên kỹ năng học tập của học trò tiểu học:
a/ Sự tạo nên kỹ năng:
– Kỹ năng là khả năng vận dụng tri thức để khắc phục một nhiệm vụ mới. Việc tạo nên kỹ năng phụ thuộc vào nội dung của nhiệm vụ, bài tập…Thực chất của sự tạo nên kỹ năng là tạo nên cho học trò nắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm sáng tỏ và làm chuyển đổi những thông tin chứa đựng trong bài tập. Giúp học trò tạo nên mẫu hình nói chung để khắc phục các bài tập .
– Kĩ xảo là hành động đã được củng cố và tự động hóa. Kĩ xảo ít có sự tham gia của ý thức, nhưng ý thức luôn túc trực để xuất hiện kịp thời lúc có vấn đề. Các động tác thừa và phụ bị loại trừ, những động tác cần thiết ngày càng xác thực hơn, nhanh hơn tiết kiệm năng lượng và thời kì, đảm bảo chất lượng tốt.
– Kĩ xảo ko gắn với một tình huống cụ thể, có thể vận chuyển dễ dàng tùy theo mục tiêu và tính chất của hành động. Muốn tạo nên kĩ xảo cho học trò thì cần phải làm cho học trò hiểu giải pháp hành động. Luyện tập thường xuyên để trở thành hành động tự động hóa, thói quen.
b/ Một số kỹ năng, kĩ xảo cần có của học trò tiểu học:
– Những kỹ năng, kĩ xảo học tập gồm những kỹ năng, kĩ xảo: đọc, viết, tính toán… Trong đó, đọc là hoạt động phức tạp đối với học trò lớp 1. Kĩ xảo viết cũng ko phải đơn giản, yêu cầu các em phải nắm quy tắc chính tả, tự động hoá mọi động tác, rà soát nhanh và tinh những chữ đã viết, đồng thời tiếp tục viết những chữ mới…
– Những kỹ năng, kĩ xảo lao động: chủ yếu là lao động tự phục vụ, lao động đơn giản như kỹ năng kĩ xảo sử dụng các dụng cụ lao động…
– Những kỹ năng, kĩ xảo vệ sinh như biết đánh răng rửa mặt…
– Những kỹ năng, kĩ xảo về hành vi như các kỹ năng, kĩ xảo đi đứng, ngồi ngay ngắn, biết ra vào đúng lối, biết cách chào thầy cô giáo…
c/ Một số yêu cầu đối với việc tạo nên kỹ năng, kĩ xảo và thói quen :
– Làm cho học trò thích thú luyện tập. Luyện cho học trò có thói quen giữ vở sạch viết chữ đẹp, vượt khó trong học tập.
– Làm cho học trò hiểu được hình thức luyện tập. Khi hướng dẫn một hành động hoặc một công việc gì đó cho học trò yêu cầu thầy cô giáo phải nghiên cứu tỉ mỉ để hướng dẫn từng thao tác sau đó mới luyện tập cho nhanh cho khéo
– Cần phải chỉ ra kịp thời những sơ sót của học trò. Những hướng dẫn của thầy cô giáo về những sơ sót trong phương pháp hành động và sự nhận định mức độ thích hợp giữa kết quả đạt được với mục tiêu đề ra có ý nghĩa quan trọng. Biết kết quả và hiểu nguyên nhân của sự sơ sót trong hành động là một trong những điều kiện chủ yếu để chuyển từ kỹ năng sang kĩ xảo nhanh chóng.
– Phcửa ải thực hiện luyện tập có hệ thống và liên tục, việc luyện tập phải đi từ dễ tới khó, từ đơn giản tới phức tạp. Ví dụ: Từ chỗ dạy cho các em đọc được, đọc đúng tới đọc trôi chảy và diễn cảm
– Phcửa ải rà soát và nhận định kết quả luyện tập. Khi luyện tập thầy cô giáo phải theo dõi, uốn nắn kịp thời những sơ sót của học trò ngay từ đầu. Quan trọng thầy cô giáo phải làm đúng mẫu. Sau đó để các em tự làm và thầy cô giáo theo dõi nhận định. Điều quan trọng là thầy cô giáo phải dạy cho các em tự rà soát, dần dần sẽ tạo nên thói quen tự rà soát, tự nhận định hành động của mình.
– Phcửa ải củng cố những kỹ năng kĩ xảo và thói quen đã được tạo nên. Ở tuổi học trò tiểu học, kỹ năng kĩ xảo, thói quen dễ tạo nên nhưng chưa vững bền nên việc củng cố kỹ năng, kĩ xảo là một điều cần thiết.
3/ Tâm lí học về giáo dục đạo đức học trò tiểu học:
a/ Khái niệm về đạo đức:
– Trong quá trình quan hệ qua lại với nhau và với xã hội con người đã đưa ra yêu cầu cho bản thân, nó được diễn tả bằng những mệnh đề hay một thuật ngữ nào đó và được gọi là những chuẩn mực đạo đức.
– Đạo đức là hệ thống những chuẩn mực biểu lộ thái độ nhận định quan hệ giữa lợi ích của bản thân với lợi ích của người khác và của xã hội.
b/ Vấn đề giáo dục đạo đức cho học trò tiểu học:
– Giáo dục đạo đức cho học trò là một trong những nhiệm vụ của nhà trường tiểu học hiện nay. Nó có một ý nghĩa chiến lược quan trọng. Bởi lẽ: “bồi dưỡng thế hệ cách mệnh cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”. Cùng với gia đình, xã hội, nhà trường có trách nhiệm phải chăm lo giáo dục đạo đức cho học trò.
– Muốn giáo dục học trò thì phải hiểu học trò, thầy cô giáo chỉ có thể hiểu được học trò lúc người thầy cô giáo biết tôn trọng và thân thiện học trò. Những lời than phiền người lớn ko hiểu trẻ em từ phía trẻ em ko phải là ko có lý. Sự vội vã, ko biết lắng tai, ko muốn tìm hiểu những gì đang diễn ra trong toàn cầu nội tâm của học trò, nhưng mà chỉ tin tưởng một cách tự mãn vào kinh nghiệm của mình chính là nguyên nhân tạo nên hàng rào tâm lý cách trở giữa nhà giáo dục với trẻ em và chính những yếu tố này góp phần tạo ra khảnăng “tự vệ tâm lý” nhưng mà trình bày rõ nhất ở tính bất cần, sự hung hăng, sự ko tiếp thu… của trẻ em với người lớn kể cả những người thân như cha mẹ, anh chị em…
– Cung cấp những tri thức đạo đức cho học trò. Giáo viên phải cung ứng cho các em tri thức đạo đức về: hiểu biết đạo đức, nghĩa vụ, trách nhiệm, trách nhiệm phải làm, về thái độ phải có… Đây là một khâu quan trọng của giáo dục đạo đức. Việc làm này có tác dụng làm cho đạo đức của học trò được xây dựng trên cơ sở lý trí, từ đó các em có thể nhìn ra và nhận định được cái thiện, cái ác, cái xấu, cái cao thượng, cái nhỏ nhen, cái ti tiện. Giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua các giờ học môn đạo đức, môn tự nhiên xã hội, hoạt động ngoài giờ chưa đủ làm cho những tri thức hiểu biết về chuẩn mực đạo đức bắt rễ sâu vào trí tuệ của học trò, chứ đừng nói tới việc tạo nên tình cảm đạo đức, động cơ đạo đức và niềm tin đạo đức… Đồng thời, các môn học khác của nhà trường cũng phải góp phần cung ứng những tri thức về đạo đức cho học trò.
– Biến tri thức đạo đức thành niềm tin và tình cảm đạo đức, đồng thời chú trọng học tập hành vi đạo đức và thói quen đạo đức. Muốn biết tri thức đạo đức thành niềm tin và tình cảm đạo đức ko thể ko tìm mọi cách tác động vào tình cảm đạo đức và ý chí học trò. Tác động vào tình cảm, sự học tập, thái độ và chuyển được tri thức đạo đức thành niềm tin đạo đức. Việc tổ chức cho học trò xúc tiếp với người thực, việc thực, với chính chủ thể của các hành vi đạo đức có thật sẽ tác động nhiều hơn so với lý thuyết dông dài, khô khan, cứng nhắc về những điều phải làm và ko làm được. Việc thực và người thực có khả năng đi thẳng vào niềm tin của mỗi học trò, của nhóm và tập thể nhưng mà học trò là thành viên. Những hành vi đó là mẫu mực để học trò noi theo.
– Tận dụng tác động tâm lý của nhóm, tập thể, trong việc giáo dục đạo đức cho học trò. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội trình bày một thái độ nhận định của xã hội. Kinh nghiệm đạo đức của nhóm và tập thể được xem là chuẩn mực đạo đức xã hội đối với các em. Học trò có thể tham gia vào các nhóm không giống nhau, nhưng trong phạm vi nhà trường thì có thể kể ra 3 nhóm chính: tổ học tập (lớp), chi đội và nhóm học trò ở nơi ở.
– Việc giáo dục đạo đức cho học trò, thầy cô giáo phải biết tìm ra những tình huống trong cuộc sống thực tiễn để các em lựa chọn giải pháp, phân tích, phê phán, khích lệ và cuối cùng thầy cô giáo đưa ra kết luận. Cách làm này có sức khắc sâu, lắng đọng và tâm hồn các em.
Mời độc giả cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục huấn luyện trong mục biểu mẫu nhé.

Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH3
Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH4
Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH20

[rule_2_plain]

#Bài #thu #hoạch #bồi #dưỡng #thường #xuyên #module #TH1


  • Tổng hợp: Thư Viện Hỏi Đáp
  • Nguồn: https://bigdata-vn.com/bai-thu-hoach-boi-duong-thuong-xuyen-module-th1/
Back to top button