Biểu Mẫu

Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module MN15

hoatieu.vn muốn gửi tới quý thầy cô giáo bài bồi dưỡng thường xuyên module MN15 để quý thầy cô tham khảo. Các bài học về chăm sóc thường xuyên của Mô đun MN8 là về các đặc điểm của trẻ em có nhu cầu đặc thù. Xin vui lòng tham khảo.

  • Mô-đun Mẫu giáo 44 Tổng quan về Bài học Huấn luyện Thường xuyên

Kế hoạch đề xuất

Mô-đun 15 : Đặc điểm của trẻ em có nhu cầu đặc thù

I. Mục tiêu

-Xin giảng giải khái niệm trẻ em có nhu cầu đặc thù.

Liệt kê các loại trẻ em có nhu cầu đặc thù.

-Hãy nêu đặc điểm của từng loại trẻ có nhu cầu đặc thù: trẻ khuyết tật về thính giác, thị giác, tiếng nói, vận động và trí tuệ. Trẻ tự kỷ nhiễm HIV tăng trưởng nhanh hơn.

-Phát hiện những trẻ có nhu cầu đặc thù trong lớp.

– tôn trọng sự nhiều chủng loại của lớp học, bao gồm cả trẻ em có nhu cầu đặc thù, và nỗ lực phục vụ các nhu cầu nhiều chủng loại của trẻ em.

II.Nội dung

Hoạt động 1: Khái niệm về trẻ em có nhu cầu đặc thù

Trẻ em có nhu cầu đặc thù là những trẻ có sự khác lạ hoặc khuyết tật tới mức các hoạt động của trường phải được sửa đổi để phục vụ nhu cầu của chúng.

Hoạt động 2: Phân loại trẻ em có nhu cầu đặc thù

Sau đây là những đặc điểm cơ bản nhất của trẻ có nhu cầu đặc thù.

Con quý (năng khiếu và tài năng)

Nhóm trẻ này còn được gọi là trẻ thiên tài, trẻ thông minh cao hay trẻ tăng trưởng sớm. Những đứa trẻ này trình bày khả năng hoạt động trí tuệ, khả năng thông minh và nghệ thuật tiên tiến với khả năng lãnh đạo khác thường hoặc xuất sắc trong một lĩnh vực cụ thể. Nó yêu cầu các dịch vụ và hoạt động khác với các chương trình học thông thường. Trẻ quý xuất hiện ở mọi nhóm văn hóa, mọi từng lớp xã hội, mọi lĩnh vực khả năng của con người.

Trẻ tài năng có những khả năng lớn, năng khiếu đặc thù trong một số lĩnh vực như nghệ thuật, âm nhạc, hội họa, khả năng lãnh đạo tốt… đây là những khả năng bẩm sinh của trẻ.

Nhóm trẻ khuyết tật

Đây là nhóm trẻ chiếm tỉ lệ cao nhất và thu được sự quan tâm hỗ trợ sớm nhất và nhiều nhất trong nhóm trẻ có nhu cầu giáo dục đặc thù.

Một số dạng khuyết tật phổ quát là:

Trẻ em khuyết tật trí tuệ

Khuyết tật trí tuệ là một hạn chế cố định trong công dụng thực tiễn. Nó được đặc trưng bởi công dụng trí tuệ dưới mức trung bình và thiếu hai hoặc nhiều hành vi phản ứng xã hội: giao tiếp và tự phục vụ., Kỹ năng xã hội, kỹ năng sống gia đình, sử dụng các phương tiện công cộng, tác động tư nhân, sức khỏe và an toàn, kỹ năng học tập, gLàm việc một cách phân tán. Khuyết tật trí tuệ xảy ra trước 18 tuổi.

Trẻ bị rối loạn vận động

Trẻ bị rối loạn vận động là trẻ bị suy giảm các cơ quan vận động, triệu chứng trước hết là ngồi, nằm, cử động, khó bế… Vì vậy, trẻ sinh hoạt, tư nhân, vui chơi gặp rất nhiều khó khăn trong học tập, lao động. Tuy nhiên, hồ hết trẻ bị rối loạn vận động đều có trí tuệ tăng trưởng phổ biến nên có thể tiếp thu các chương trình học ở trường và làm những công việc có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

Trẻ khiếm thính

Trẻ bị suy giảm công dụng thính giác, kỹ năng giao tiếp bị hạn chế và khả năng xử lý thông tin bằng âm thanh bị tác động.

– Loại mất thính giác:

+ Giảm thính lực ở dây thần kinh thính giác: Do tế bào lông thính giác hoặc dây thần kinh tiền đình bị tổn thương.

+ Nghe kém hỗn hợp: Gây ra bởi các vấn đề về tai ngoài, tai giữa và tai trong. Những người này thường bị điếc nặng.

+ Điếc trung ương: Gây ra do tổn thương các dây thần kinh hoặc các tế bào trong hệ thần kinh trung ương. Những người này thường bị điếc ở mức độ sâu.

Trẻ khiếm thị

Trẻ khiếm thị gCó rất nhiều khó khăn với người khiếm thị (suy giảm thị lực, mù lòa), các hoạt động cần sử dụng mắt ngay cả lúc có dụng cụ hỗ trợ thị giác. Suy giảm thị lực là sự suy giảm đáng kể công dụng thị giác của một người, ngay cả sau lúc được điều trị tật khúc xạ tốt nhất, nhưng thị lực vẫn thấp hơn 6/18 cho tới lúc phân biệt được ánh sáng, bóng tối hoặc trường thị giác. Nó thu hẹp xuống dưới 10.0 Tuy nhiên, một người vẫn có thể sử dụng phần còn lại của thị lực để thực hiện các nhiệm vụ trong cuộc sống vì điểm định hình của mắt rất tuyệt vời.

Hoạt động 3: Tìm hiểu đặc điểm của trẻ có nhu cầu đặc thù

Đặc điểm của trẻ tăng trưởng sớm

Tài năng Trẻ em tài năng cũng là nhóm trẻ em có nhu cầu giáo dục đặc thù. Họ thường ko phải đương đầu với kết quả học tập kém và thi trượt, nhưng khả năng đặc thù của họ yêu cầu sự giáo dục đặc thù. Những đứa trẻ tài năng và thông minh học rất nhanh và xuất sắc trong tất cả các ngành hoặc một số ngành cụ thể. Trẻ em thường lớn hơn các bạn cùng thế hệ. Một số trẻ em tài năng rất thông minh. Một số trẻ em thường có khả năng đặc thù trong một số lĩnh vực nhất mực như nghệ thuật, âm nhạc, sân khấu và khả năng lãnh đạo. Thời cơ để tăng trưởng khả năng thông minh và năng khiếu có thể được tìm thấy trong môi trường lớp học của trẻ em.

Trẻ em chậm tăng trưởng trí tuệ

Trẻ khuyết tật trí tuệ tiếp thu các kỹ năng với vận tốc chậm hơn những trẻ khác. Trẻ chậm tăng trưởng trí tuệ thường có những bộc lộ thất thường về thính giác, thị giác và sự chú ý. Động kinh và các vấn đề thần kinh khác. Mặc dù có một số mức độ khuyết tật trí tuệ, hồ hết trẻ em (trừ những trẻ em bị khuyết tật trí tuệ nặng) có thể học các kỹ năng mới.

Trẻ em khuyết tật trí tuệ bị thiểu năng học tập nghiêm trọng. Do khả năng trí tuệ dưới mức trung bình, trẻ em tiếp thu chậm hơn các bạn cùng lớp và có thể thiếu một hoặc nhiều lĩnh vực học tập. Các nhiệm vụ học tập yêu cầu khả năng suy luận và tư duy trừu tượng là vô cùng khó khăn đối với trẻ em.

Có nhiều mức độ trong nhóm trẻ chậm tăng trưởng trí tuệ. Trẻ khuyết tật trí tuệ nhẹ thường học và sống độc lập hơn và ít cần sự hỗ trợ hơn so với trẻ khuyết tật nặng hơn.

Trẻ bị rối loạn vận động

Trẻ bị rối loạn vận động là trẻ bị suy giảm các cơ quan vận động, triệu chứng trước hết là ngồi, nằm, cử động, khó bế… Vì vậy, trẻ sinh hoạt, tư nhân, vui chơi gặp rất nhiều khó khăn trong học tập, lao động. Tuy nhiên, hồ hết trẻ bị rối loạn vận động đều có trí tuệ tăng trưởng phổ biến nên có thể tiếp thu các chương trình học ở trường và làm những công việc có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

Trẻ khiếm thính

Rối loạn liên quan tới mất hoặc hạn chế khả năng nhận tín hiệu âm thanh được gọi là điếc. Nếu trẻ bị điếc, có mức độ điếc đáng kể, nhưng trẻ vẫn có khả năng viết, và nhờ hệ thống hỗ trợ và khuếch đại giọng nói, phần còn lại của thính giác của trẻ được phát huy. Các thiết bị âm thanh là vô dụng bởi vì những người khiếm thính có khả năng nghe rất ít hoặc ko có. Tùy theo mức độ khuyết tật, trẻ khiếm thính có thể sử dụng tiếng nói ký hiệu, đọc văn bản và sử dụng nhiều phương tiện không giống nhau để hỗ trợ giao tiếp.

Trẻ khiếm thị

Suy giảm thị lực là một khuyết thiếu về mắt như hỏng mắt, mù lòa, ko thể nhìn hoặc nhìn rõ toàn cầu hữu hình.

Trí tuệ tăng trưởng phổ biến và hệ thần kinh trung ương tăng trưởng như bao đứa trẻ khác.

Các cơ quan phân tích tăng trưởng phổ biến (trừ trường hợp suy giảm thị lực).

Một đứa trẻ có hai cơ quan phân tích. Thính giác và xúc giác rất tăng trưởng, và việc phục hồi công dụng, tập huấn và khoa học sớm cho phép hai cơ quan này thay thế hoàn toàn công dụng thị giác.

Ngôn ngữ, suy nghĩ, hành vi và cách cư xử của những đứa trẻ này tương tự như những đứa trẻ phổ biến. Tuy nhiên, nó cũng có những mặt hạn chế nhất mực như tiếng nói ko có hình ảnh. Tôi ko thể đọc hoặc viết với các ký tự phẳng. Vốn tri thức, quan niệm kém trước lúc đi học;

Trẻ khuyết tật về giao tiếp, tiếng nói và tiếng nói

Khó nói chủ yếu là bộc lộ của việc khó phối âm và phát âm hoặc phát âm, đặc thù là ở trẻ nhỏ. Các triệu chứng khác như xỉu, nói lắp và các vấn đề về giọng nói và sự trôi chảy khác. Trẻ có thể bỏ từ hoặc phát âm sai các từ thông dụng lúc nói.

Ngôn ngữ nói ko chỉ bao gồm việc trình bày nội dung thông điệp của người nói nhưng còn bao gồm cả việc người nghe tiếp thu thông điệp. Trẻ có vấn đề về tiếng nói có thể gặp vấn đề với một trong hai hoặc cả hai quá trình này. Nhiều trẻ có tín hiệu chậm tăng trưởng tiếng nói về mọi mặt. Nhiều trẻ chỉ gặp trắc trở trong một hoặc một số khía cạnh cụ thể, chẳng hạn như khó khăn về cú pháp, từ vựng và ngữ nghĩa.

III.Bài học kinh nghiệm

Có bốn nhóm trẻ em có nhu cầu đặc thù: trẻ em khuyết tật, trẻ em tài năng, trẻ em có nguy cơ phải nghỉ học và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Ngoài những trẻ em có nhu cầu đặc thù còn có những trẻ em có hoàn cảnh đặc thù như trẻ mồ côi ko nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi. Mô-đun này tập trung vào các nhóm trẻ em có nhu cầu đặc thù. Hiệu quả của giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng thầy cô giáo cần phải hiểu và khắc phục các nhu cầu nhiều chủng loại của tất cả trẻ em trong lớp học. Bao gồm trẻ em có nhu cầu đặc thù. Để làm được điều này, thầy cô giáo cần có kiến ​​thức về những trẻ có nhu cầu đặc thù và hiểu được đặc điểm của những trẻ này. Mô-đun này hiểu được trẻ em có nhu cầu đặc thù là gì, biết được đặc điểm của từng nhóm trẻ em có nhu cầu đặc thù, đặc điểm của từng nhóm trẻ em, đồng thời phát hiện trẻ em có nhu cầu trong lớp học hữu ích.

Ngày tháng năm……

Giáo viên chủ nhiệm

Đọc thêm trong phần này. giáo dục Với các mặt hàng hình dạng xin vui lòng.

  • Mẫu kế hoạch rèn luyện tư nhân thường xuyên năm 2019-2020
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên MN2
  • Các buổi tập huấn thường xuyên cho mô-đun MN1

Thông tin thêm

Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module MN15

[rule_3_plain]

hoatieu.vn xin gửi tới thầy cô bài viết Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module MN15 để thầy cô cùng tham khảo. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module MN8 là bài thu hoạch về đặc điểm của trẻ có nhu cầu đặc thù. Mời các bạn tham khảo.

Tổng hợp bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên Măng non 44 Module

KẾ HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
Module 15 : ĐẶC ĐIỂM CỦA TRẺ CÓ NHU CẦU ĐẶC BIỆT
I. MỤC TIÊU
– Nêu đuợc khái niệm là trẻ có nhu cầu đặc thù.
– Liệt kê các loại trẻ có nhu cầu đặc thù.
– Mô tả đặc điểm của từng loại trẻ có nhu cầu đặc thù: trẻ khuyết tật nghe, nhìn, nói, vận động, trí tuệ; tự kỉ trẻ nhiễm HIV, trẻ tăng trưởng sớm.
– Phát hiện trẻ có nhu cầu đặc thù trong lớp.
– Có thái độ tôn trọng sự đa dang trong lớp học và nỗ lực phục vụ các nhu cầu nhiều chủng loại trẻ trong đó trẻ có nhu cầu đặc thù.
II. NỘI DUNG
Hoạt động 1: Khái niệm trẻ có nhu cầu đặc thù
Trẻ có nhu cầu đặc thù là những trẻ trong khi những khác lạ hoặc những khuyết thiếu của chúng xuất hiện ở mức độ nhưng những hoạt động nhà trường phải được thay đổi để phục vụ nhu cầu của trẻ.
Hoạt động 2: Phân loại trẻ có nhu cầu đặc thù
Sau đây là những đặc trưng cơ bản nhất của các loại trẻ có nhu cầu đặc thù.
Trẻ tăng trưởng sớm (năng khiếu và tài năng)
Nhóm trẻ này còn có tên gọi khác là thần đồng, trẻ thông minh đặc thù hay những trẻ tăng trưởng sớm. Những trẻ này trình bày mức độ cao ở công dụng trí tuệ, thông minh và các lĩnh vực nghệ thuật, sở hữu một khả năng lãnh đạo khác thường hoặc xuất sắc trong những lĩnh vục học vấn cụ thể. chúng yêu cầu các dịch vụ hoặc các hoạt động khác với chương trình thông thường cửa trường học. Những trẻ tăng trưởng sớm xuất hiện ở mọi nhóm văn hoá, mọi tầng lóp xã hội và trong tất cả các lĩnh vực khả năng của con người.
Trẻ năng khiếu có những khả năng nổi trội, có những năng khiếu đặc thù về một số lĩnh vực như là nghệ thuật, âm nhac, hội hoạ hay khả năng lãnh đạo xuất chúng… Đó là những khả năng thiên bẩm của trẻ.
Nhóm trẻ khuyết tật
Đây là nhóm trẻ chiếm tỉ lệ cao nhất và cũng thu được sự hỗ trợ và quan tâm sớm nhất và nhiều nhất của giáo dục đặc thù trong số những trẻ có nhu cầu giáo dục đặc thù.
Dưới đây là một số dạng khuyết tật thường gặp:
Trẻ khuyết tật trí tuệ
Khuyết tật trí tuệ là những hạn chế cố định trong những công dụng thực tại. Nó được bộc lộ đặc trưng bởi công dụng trí tuệ dưới mức trung bình, thiếu hụt hai hay nhiều hành vi ứng xã hội: giao tiếp, tự phục vụ, kỹ năng xã hội, kỹ năng sống tại gia đinh, sử dụng tiện ích công cộng, tác động tư nhân, sức khỏe và an toàn, các kỹ năng học tập, giải thể và làm việc. Khuyết tật trí tuệ xảy ra trước 18 tuổi.
Trẻ khuyết tật vận động
Trẻ khuyết tật vận động là những trẻ có cơ quan vận động bị tổn thương, bộc lộ trước hết của chúng là có khó khăn lúc ngồi, nằm, vận chuyển, cầm nắm… Do đó, trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt tư nhân, vui chơi, học tập và lao động. Tuy vậy, đa số trẻ có khó khăn về vận động có bộ não tăng trưởng phổ biến nên các em vẫn tiếp thu đuợc chương trình phổ thông, làm được những công việc có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.
Trẻ khiếm thính
Là những trẻ có công dụng nghe bị suy giảm đáng kể làm hạn chế khả năng giao tiếp và tác động tới quá trình xử lý thông tin bằng âm thanh.
– Các loại điếc:
+ Điếc dây thần kinh thính giác: Do bị tổn thương tế bào lông thính giác hoặc dây thần kinh tai trong.
+ Điếc hỗn hợp: do những vấn đề về tai ngoài, tai giữa và tai trong gây ra. Những người này thường có mức độ điếc sâu.
+ Điếc trung ương: do tổn thương dây thần kinh hoặc tế bào của hệ thần kinh trung ương. Nhũng người này thường có múc độ điếc sâu.
Trẻ khiếm thị
Là những trẻ có khuyết tật thị giác (nhìn kém, mù), gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động cần sử dụng mắt ngay cả lúc đã có các phương tiện trợ thị. Khiếm thị là công dụng thị giác của một người bị giảm nặng thậm chí sau lúc đã được điều trị tật khúc xạ tốt nhất nhưng thị lực vẫn ở mức thấp dưới 6/18 cho tới vẫn còn phân biệt được sáng, tối hoặc thị trường thu hẹp dưới 100 kể từ điểm định thị ở mắt tốt hơn, tuy nhiên người đó vẫn còn có khả năng sử dụng phần thị giác còn lại để thực hiện các công việc trong cuộc sống.
Hoạt động 3: Tìm hiểu đặc điểm của trẻ có nhu cầu đặc thù
Đặc điểm của trẻ tăng trưởng sớm
Trẻ năng khiếu và tài năng cũng là nhóm trẻ có nhu cầu giáo dục đặc thù. Mặc dù chúng thường ko phải đương đầu với những kết quả học tập thấp, những bài thi trượt nhưng những khả năng đặc thù của chúng yêu cầu việc dạy học đặc thù. Trẻ tài năng và thông minh có thể học rất nhanh và xuất sắc trong tất cả các lĩnh vực hoặc một vài lĩnh vực cụ thể nào đó. Trẻ thường tăng trưởng vượt các bạn cùng trang lứa. Một số trẻ tài năng rất thông minh; một số trẻ khác thường có khả năng đặc thù ở những lĩnh vực cụ thể như mĩ thuật, âm nhạc, kịch và lãnh đạo. Những thời cơ để tăng trưởng khả năng thông minh và năng khiếu có thể có ở ngay trong môi trường lớp học của trẻ.
Trẻ khuyết tật trí tuệ
Những trẻ có khuyết tật trí tuệ đạt được các kỉ năng với vận tốc chậm hơn so với những trẻ khác. Trẻ khuyết tật trí tuệ thường có những bộc lộ ko phổ biến về nghe, nhìn, chú ý; động kinh và những vấn đề thần kinh khác. Có nhiều mức độ khuyết tật trí tuệ, nhưng hồ hết trẻ (trừ trẻ khuyết tật trí tuệ ở mức nghiêm trọng) đều có thể học được những kỹ năng mới.
Trẻ khuyết tật trí tuệ có khó khăn đáng kể về học. Do khả năng trí tuệ dưới mức trung bình, trẻ có thể học chậm hơn và bị thiếu hụt một hay nhiều lĩnh vực học tập 50 với các bạn cùng thế hệ. Những nhiệm vụ học tập yêu cầu khả năng lí giải và suy nghĩ tư duy trừu tượng là rất khó với trẻ.
Trong nhóm trẻ khuyết tật trí tuệ có nhiều mức độ. Trẻ khuyết tật trí tuệ mức độ nhẹ thì có nhiều khả năng học và sống độc lập hơn và cần ít sự hỗ trợ hơn những trẻ mức độ nặng hơn.
Trẻ khuyết tật vận động
Trẻ khuyết tật vận động là những trẻ có cơ quan vận động bị tổn thương, bộc lộ trước hết của chúng là có khó khăn lúc ngồi, nằm, vận chuyển, cầm nắm… Do đó, trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt tư nhân, vui chơi, học tập và lao động. Tuy vậy, đa số trẻ có khó khăn về vận động có bộ não tăng trưởng phổ biến nên các em vẫn tiếp thu đuợc chương trình phổ thông, làm được những công việc có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.
Trẻ khiếm thính
Khuyết tật có liên quan tới việc mất hoặc hạn chế khả năng tiếp thu các tín hiệu âm thanh được gọi là khiếm thính. Khi trẻ nghe khó tức là trẻ mất khả năng nghe một cách đáng kể nhưng trẻ vẫn có khả năng viết và khả năng nghe còn lại của trẻ được phát huy nhờ vào các thiết bị trợ giúp âm thanh và những hệ thống khuyếch đại. Người điếc còn rất ít hoặc mất hẳn khả năng nghe do vậy nhưng các thiết bị âm thanh ko trợ giúp được. Dựa trên mức độ khuyết tật nhưng trẻ khiếm thính có thể sử dụng tiếng nói kí hiệu, các bài đọc và sử dụng những phương tiện không giống nhau để hỗ trợ cho việc giao tiếp của trẻ.
Trẻ khiếm thị
Khiếm thị là những khuyết tật về mắt như hỏng mắt, mù lòa, ko đủ sức nhận mặt toàn cầu hữu hình bằng mắt hoặc nhìn thấy mập mờ.
Trí tuệ tăng trưởng phổ biến, trung ương thần kinh tăng trưởng như mọi trẻ em khác;
Các cơ quan phân tích tăng trưởng phổ biến (trù cơ quan thị giác bị khuyết tật);
Các em có hai cơ quan phân tích: thính giác và xúc giác rất tăng trưởng, nếu được phục hồi công dụng, huấn luyện sớm và khoa học, hai cơ quan phân tích này hoàn toàn có thể làm công dụng thay thế công dụng thị giác bị phá hủy;
Ngôn ngữ, tư duy, hành vi, cách xử sự của những trẻ em này cũng giống những trẻ em phổ biến. Tuy nhiên các em cũng có những tồn tại nhất mực như tiếng nói thiếu hình ảnh; ko thể viết và đọc bằng chữ phẳng; trước lúc tới trường, vốn tri thức, khái niệm nghèo nàn;
Trẻ có khó khăn về giao tiếp, tiếng nói và lời nói
Khó khăn về nói chủ yếu là bộc lộ khó khăn về khả năng phát âm rõ ràng và quá trình phát âm hoặc việc tạo ra lời nói, đặc thù là ở trẻ nhỏ. Một số bộc lộ khác như có vấn đề về giọng và về độ trôi chảy như nói bị ngất, lắp bấp. Trẻ có thể bỏ qua từ lúc nói, hoặc phát âm sai những từ thông thường.
Ngôn ngữ nói ko chỉ bao gắm việc diễn tả các nội dung thông điệp của người nói nhưng còn bao gồm cả việc tiếp thu thông điệp của người nghe. Trẻ có khó khăn về tiếng nói có thể gặp trắc trở ở một trong hai quá trình trên hoặc cả hai quá trình trên. Nhiều trẻ có bộc lộ tăng trưởng tiếng nói chậm ở mọi mặt, nhiều trẻ thì chỉ có bộc lộ gặp trắc trở ở một hoặc một vài khía cạnh cụ thể nào đó như gặp trắc trở về cú pháp, từ vựng hay ngữ nghĩa.
III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Đặc điểm của trẻ có nhu cầu đặc thù bao gồm 4 nhóm trẻ khuyết tật, trẻ tài năng, trẻ có nguy cơ bỏ học và trẻ có hoàn cảnh khó khăn. Kế bên trẻ có nhu cầu đặc thù là trẻ em có hoàn cảnh đặc thù như trẻ mồ côi ko nơi nương tựa, trẻ bị bỏ rơi…..Trong module này tập trung vào một số nhóm trẻ có nhu cầu đặc thù. Hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó thầy cô giáo cần hiểu và phục vụ sự nhiều chủng loại về nhu cầu của tất cả trẻ em trong lớp. Trong đó có trẻ có nhu cầu đặc thù. Để làm được việc này, thầy cô giáo cần có những tri thức về trẻ có nhu cầu đặc thù, hiểu biết đặc điểm của những trẻ này. Modunle này giúp chúng ta hiểu được thế nào là trẻ có nhu cầu đặc thù, biết được nhóm trẻ có nhu cầu đặc thù, đặc điểm của từng nhóm trẻ và phát hiện được trẻ có nhu cầu trong lớp.
……, ngày…..tháng…..năm………
Giáo viên chủ nhiệm
Mời độc giả cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục tập huấn trong mục biểu mẫu nhé.

Mẫu kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên tư nhân năm học 2019-2020
Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module MN2
Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module MN1

[rule_2_plain]

#Bài #thu #hoạch #bồi #dưỡng #thường #xuyên #module #MN15


  • Tổng hợp: Thư Viện Hỏi Đáp
  • Nguồn: https://bigdata-vn.com/bai-thu-hoach-boi-duong-thuong-xuyen-module-mn15/
Back to top button